• Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên Lạc
  • Đăng nhập
  • Đọc tin RSS
  • Trang Chủ
  • phật pháp
  • kinh tạng
  • luật tạng
  • hình ảnh
  • thơ văn
  • nhật ký
  • sưu tầm
  • truyện ngắn
Bạn Đang Xem : Trang Chủ »
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tạng. Hiển thị tất cả bài đăng

Có mặt trên thế gian này, được trưởng thành với đời, có công danh với xã hội, chắc chắn ai trong chúng ta cùng đều phải mang nặng một món nợ, đó là món nợ ân tình đối với hai bậc phụ mẫu. Mẹ sinh ra ta, cha nuôi ta lớn khôn, dạy dỗ từng bước đi đầu tiên, những tiếng nói bập bẹ cho đến cách cư xử ở đời và rồi cho ta một hành trang vững chải với cuộc sống. chỉ bấy nhiêu thôi, nhưng ân đức của cha mẹ vô cùng to lớn và vô cùng tận.
Mùa Vu Lan, duy chỉ có một ngày, một thời gian ngắn để tưởng nhớ ân đức cha mẹ nhưng trách nhiệm của người con hiếu thảo là cả cuộc đời phải biết phụng dưỡng và đáp đền công đức của mẹ cha. Mà làm sao có thể đền trả được món nợ ân tình cao sâu vời vợi như thế được chứ. Đức Phật đưa ra hình ảnh người con cõng cha mẹ hai bên vai đi giáp vòng hết quả địa cầu, cung phụng các món ngon vật lạ suốt đời thì cũng không thể đền đáp được ân cha nghĩa mẹ[1]. Theo Phật giáo, người con có hiếu là ngoài việc phụng dưỡng, chăm sóc, làm việc thay thế cha mẹ, làm phước hồi hướng khi cha mẹ quá vãng[2] thì người con còn một cách báo hiếu cao quý nhất là hướng cha mẹ đến với thiện pháp, có lòng tin với Tam bảo, có chánh kiến và hướng cha mẹ đến với sự giải thoát[3] chính là cách báo hiếu trọn vẹn và ý nghĩa nhất.
Phụng dưỡng cha mẹ là một trong những bổn phận quan trọng của con cái. Không chỉ phụng dưỡng, người con hiếu còn phải thuận thảo, thương yêu và kính trọng cha mẹ với tất cả chân thành. Phước báo phụng dưỡng cha mẹ, theo tuệ giác Thế Tôn, hiện tại được người đời tôn vinh ca ngợi và tương lai được sanh về Thiên giới hạnh phúc an vui.
Người nào theo thường pháp
Nuôi dưỡng mẹ và cha
Chính do công hạnh này
Đối với cha với mẹ
Nhờ vậy bậc Hiền Thánh
Trong đời này tán thán
Sau khi chết được sanh
Hưởng an lạc chư Thiên.[4]
Tuy nhiên, điều quan trọng mà Thế Tôn muốn nhấn mạnh ở đây là những phẩm vật phụng dưỡng, kính thờ cha mẹ phải trong sạch, là thành quả sự lao động chân chính theo thường pháp. Nếu những thành tựu vật chất trong hiện tại là kết quả của việc làm ăn phi pháp như tranh đoạt, trộm cướp, lừa gạt, trốn thuế, hối lộ, tham nhũng rồi đem phụng dưỡng cha mẹ thì chẳng những không được phước mà cha mẹ có thể bị liên lụy theo.
Sanh con ra, cha mẹ nào cũng muốn con được nên người, trưởng thành với đời; ấy vậy mà đâu phải con cái nào cũng có hiếu với cha mẹ. theo đức phật nhận định, những người con có hiếu với cha mẹ ít hơn những người không có hiếu, cũng ví như đất trên đầu móng tay của như lai so sánh với đất trên quả địa cầu này vậy[5]. Và hôm nay, hòa mình cùng với không khí của những người con hiếu thảo hướng về hai đấng sanh thành, trong bài viết này xin nêu lên một vài tấm gương hiếu hạnh "vĩ đại" để chúng ta lấy đó làm kim chỉ nam trong cuộc sống và là một bài học cho những người con chí hiếu. Và đây là những người con tiêu biểu nhất được ghi lại trong kinh điển và lịch sử.
1. Đức Thế Tôn.

Sanh ra và lớn lên vẫn như bao người con khác, thái tử Siddhattha là hoàng nam duy nhất của đức vua Suddhodana và hoàng hậu Sirī Mahāmāyā, trị vì kinh thành Kapilavatthu của tộc Sakya. Bảy ngày sau khi hạ sanh thái tử, hoàng hậu băng hà và người em gái Mahāpajāpatī Gotamī được phong làm hoàng hậu mang trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc cho thái tử. Đến năm 16 tuổi, thái tử sánh duyên cùng công chúa Yasodharā xinh đẹp. Đến ngày được làm cha, năm 29 tuổi, và cũng là ngày thái tử rời bỏ cung điện, ngai vàng cùng vợ đẹp và đứa con thơ chưa nhìn mặt để đi tầm cầu đạo giải thoát. Với người đời, có lẽ người ta không hiểu sẽ cho rằng thái tử là một người con vô tâm, một người chồng, một người cha vô trách nhiệm. Nhưng không phải vậy. Thái tử ra đi, từ bỏ hạnh phúc cá nhân tầm thường để đi tầm cầu một con đường giải thoát, cao quý hơn, đó gọi là Thánh Cầu[6]. Sau sáu năm hành đạo để tìm con đường thoát khổ, cuối cùng bồ-tát cũng đã chứng đạt quả vị Phật Chánh Đẳng Giác dưới cội Bồ-đề vào ngày trăng tròn tháng Vesākha.
Mục đích đã đạt được, cái cần tìm đã tìm thấy, đức Phật bắt đầu những ngày tháng du hành đây đó khắp các nẻo đường Bắc Ấn để going lên hồi trống bất tử để cho những ai hữu duyên được nghe và chứng nghiệm Pháp giải thoát. Và trong những chuyến hành trình đó, Ngài đã trở về lại quê hương Kapilavatthu để tế độ quyến thuộc.
Trong thời gian ở tại quê nhà, vì không có ai thỉnh Ngài trai tăng cúng dường nên Thế Tôn cùng với đoàn Tỳ-khưu tùy tùng đi khất thực trong kinh thành. Vua cha nghe tin dân chúng xôn xao vì chuyện con vua đi xin ăn ngoài thành nên nhà vua đến phàn nàn với Thế Tôn. Đức Phật cho biết rằng Ngài chỉ giữ đúng theo truyền thống dòng dõi của chư Phật là đi khất thực từng nhà chư đâu làm mất thể diện dòng dõi vua chúa của vua cha. Sau thời pháp thoại, nhà vua đắc quả Tu–đà-huờn[7]. Sau đó vua cha thỉnh đức Phật cùng chư Tỳ-khưu theo Ngài vô cung thọ trai. Tại đây, tất cả mọi người đều đến đảnh lễ Ngài, ngoại trừ công chúa Rāhulamātā. Sau khi thọ trai, Thế Tôn đã thuyết thời pháp đệ khích lệ đến vua cha và di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī. Cuối thời pháp, di mẫu đắc quả Tu–đà-huờn còn vua Sudddhodana đắc Thánh Tư-đà-hàm[8].
Và vào mùa an cư thứ năm của đức Thế Tôn, vua Suddhoadana lâm trọng bệnh, Thế Tôn đã trở lại quê hương lần thứ hai để tế độ vua cha đắc được thánh quả A-la-hán khi nằm trên giường bệnh trước khi thăng hà[9]. Cũng vào năm này, Hoàng hậu Mahāpajāpatī Gotamī cùng đi với 500 nữ nhân dòng Sakya đến Nigrodhārāma viếng Phật và bạch xin Ngài cho phép nữ nhân gia nhập Tăng đoàn. Bà xin ba lần và Phật từ khước ba lần rồi Ngài trở về Vesāli. Dầu không được phép, mgọi người vẫn xuống tóc, đắp y vàng rồi đi theo Ngài hướng về Vesāli. Sau cùng Tôn giả Ānanda vào bạch xin đức Thế Tôn cho phép thành lập Ni đoàn và được đức Phật chập thuận nếu như nữ nhân chấp nhận thọ trì tám kính pháp[10].
Vào mùa an cư thứ 7 của Thế Tôn, Ngài đã an cư trên cõi trời Tāvatiṃsā[11] ba tháng mùa mưa và thuyết giảng Abhidhamma cho mẫu hậu của mình, lúc đó đã là một vị nam thiên tử. Sau thời pháp, vị thiên tử chứng đắc được Thánh quả Dự-lưu.
Như vậy, chúng ta thấy Thế Tôn đã "nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy"[12]. Chính những lời dạy của Ngài và những hành động của Thế Tôn đi đôi với nhau là những bài học thiết thực nhất khiến bao người phải quy ngưỡng. Vai trò là một vị Đạo sư vĩ đại lúc bất giờ, biết bao người quy phục, biết bao vua chúa quỳ lạy và hàng chư thiên khắp các cõi lễ bái nhưng Ngài cũng không quên tế độ quyến thuộc của mình. Đúng như câu nói "Nhất nhân đắc đạo, cửu huyền siêu thăng" quả thật không sai. Chính vì thế, Ngài đáng là một bậc vĩ nhân chí hiếu đáng là tấm gương sáng cho những người con.
2. Tôn giả Sāriputta.

Cuộc đời của Tôn giả Sāriputta, bậc Tướng quân Chánh Pháp, cả cuộc đời Ngài là vầng sử rạng ngời đáng cho hang hậu học kính nể và nương theo tu học. Một câu chuyện ghi lại, Ngài đã giúp tế độ cho người thân mẫu của Ngài vào một kiếp quá khứ xa xưa, như là đáp trả món ân tình đã vay mượn từ thuở nào.
Một thuở nọ, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahāmoggallāna, Tôn giả Anuruddha và Tôn giả Kappina trú tại một khu rừng không xa Vương Xá thành lắm. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đang đi kinh hành trong đêm, có một nữ dạ xoa muốn đi đến yết kiến với Tôn giả nhưng các vị chư thiên bảo vệ tịnh xá không cho dạ xọa vào bên trong. Nữ dạ xoa nói với các chư thiên rằng : mình là Mẹ của Tôn giả cách đây bốn kiếp về trước[13] nên xin các vị ấy cho vào trong để thăm viếng ngài Tôn giả. Chư thiên nghe vậy cho nàng vào. Khi đã vào, nàng dạ xoa ấy đã hiện hình ra trước mặt Tôn giả ngay tại cuối con đường kinh hành. Nàng thuật lại câu chuyện quá khứ của mình, do đã tạo ác nghiệp mắng chửi, nguyền rủa các vị xuất gia nên phải chịu cảnh khổ như thế này. Dạ xoa cầu xin Tôn giả bố thí cúng dường vật thực và hồi hướng phước đến cho mình để thoát khỏi sự đau khổ.
Sáng hôm sau, nhân khi đi khất thực trong thành Vương Xá, các ngài đến gặp vua Bình-sa, và Tôn giả Mahāmoggallāna thuật lại câu chuyện ấy cho vua nghe. Nhà vua hoan hỷ phát tâm trong sạch hứa sẽ giúp Tôn giả Sāriputta. Vua truyền lệnh cho các quan dựng bốn tịnh thất trong khu rừng ngoại thành, và sửa soạn vật thực, đồ ăn, thức uống và y phục. Sau đó, nhà vua chuyển toàn bộ những thứ ấy đến Tôn giả Sāriputta. Nhân danh Mẹ của mình, Tôn giả Sāriputta bố thí cúng dường đến Đức Phật và Tăng đoàn, rồi hồi hướng công đức phước báu đến cho bà. Nhờ đó, bà được tái sinh vào cõi Trời Phạm Thiên[14].
Đó là món nợ còn thiếu trong quá khứ xa xưa, còn đối với món nợ ân tình của Ngài trong kiếp này, trước khi viên tịch Níp-bàn, Tôn giả Sāriputta đã thực hiện một chuyến du hành cuối cùng trong vòng luân hồi để Ngài trở lại quê hương, nơi ngôi làng cũ, nơi chăn nhà mà Ngài đã sinh ra để tế độ thân mẫu.
Thân mẫu của ngài tên là Rūpasārī, là một tín đồ thuần thành của Bà-la-môn giáo, mặc dù bảy người con[15] yêu quý của bà đều xuất gia trong Giáo pháp của đức Phật và đều đắc thánh quả A-la-hán nhưng bà không có niềm tin nơi Tam Bảo và cũng rất không thích chư Tăng. Vì bà nghĩ rằng, chính đức Phật và những vị đệ tử Phật đã lôi kéo những đứa con trai, con gái bỏ bà để đi xuất gia[16].
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta tuổi đã cao, sức khỏe đã ngày càng suy kiệt, Ngài biết rằng nhân duyên của mình sắp mãn nên đã xin phép đức Phật về quê hương tiếp độ mẫu thân và viên tịch tại nơi đó.
Tôn giả từ giã đại chúng và dẫn theo 500 Tỳ-kheo về quê hương mình. Trên đường về gần đến ngôi làng thuở xưa của mình, Tôn giả gặp đứa cháu trai và bảo người cháu về thông báo với Mẹ Ngài rằng: Tôn giả Sāriputtađã trở về và xin ở lại căn phòng thuở xưa lúc Ngài chào đời. Người cháu vô cùng mừng rỡ, vội vàng chạy về báo tin. Dù rằng bà Sārī rất ghét Tăng đoàn, rất giận người con cả, nhưng lòng yêu thương con không bao giờ vơi cạn, bà đổi giận làm vui để tiếp đón chư Tăng. Tối đêm ấy, ở ngay căn phòng thuở xưa lúc chào đời, Tôn giả đã trở bệnh kiết lỵ. Lúc bấy giờ, có vị thị giả đang hầu hạ, cứ vào ra với những cái bô trên tay. Bà sārī rất quan tâm đến người con cả, nhưng vẫn còn đứng ở bên ngoài phòng của Tôn giả quan sát.
Khi ấy, các vị thiên vương, thiên chủ,phạm thiên lần lượt hiện vào phòng để kính lễ tôn giả, hào quang của các vị ấy làm cho cả căn phòng và khu vườn nơi Tôn giảSāriputta đang ở sáng rực hào quang. Sau khi các vị Thiên chủ đã ra đi, bà vội vàng vào phòng của Tôn giả để hỏi thăm về những vị trời ấy. Tôn giả đã từ tốn giải thích đó là những vị trời nào, sự hộ pháp của họ ra sao, đã hầu hạ đức Phật trong lúc đản sanh, sự thưa thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân lúc mới thành đạo như thế nào, v.v… Nghe xong, vô cùng kính phục, bà không ngờ người con của mình cao cả đến độ các vị trời cao quí, ngay cả đến Đại phạm thiên, Brahma (vị trời cao cả nhất, tối thượng nhất mà cả dòng tộc bà cũng như bản thân bà luôn kính ngưỡng phụng thờ, cầu nguyện hàng trăm năm nay) lại chỉ là người hầu của con mình, là đệ tử của đức Thế Tôn. Trong tâm bà phát khởi tín tâm, suy nghĩ: “Nếu oai lực của người con trai mình như thế thì oai lực vô biên của đấng Bổn sư của con mình còn to lớn biết chừng nào!”
Bằng sự kính ngưỡng cao cả chưa từng có, đồng thời nghe xong bài pháp ngắn về công đức Phật, Pháp, Tăng của Tôn giả, toàn thể châu thân bà Sàri rúng động, niềm tin tối thượng về đức Phật, về người con vĩ đại của mình, cũng như về Tam Bảo. Niềm hoan hỷ, an lạc bất tận phát sinh đến từng chân tơ kẻ tóc, bà đã chứng đắc được quả vị Tu-đà-hoàn, chính thức bước vào dòng Thánh, chắc chắn sẽ đạt đến giải thoát, an lạc.
Quá xúc động, bà Sàri đã thốt lên với Tôn giả: : “Này người con đáng kính của Mẹ! Này ngài Upatissa, tại sao trong suốt những năm qua con không ban bố cho Mẹ một sự hiểu biết bất tử này?“
Khi biết thân mẫu của mình đã đạt được thánh trí, ngài bèn nghĩ: “Giờ thì ta đã đền đáp xong công ơn sinh thành của người Mẹ ta rồi, người thiếu phụ Bà-la-môn mà trước đây dân làng ai cũng tôn kính và đều gọi làRūpasārī. Chính nhờ bà, ta đã nên người. Pháp bảo mà ta vừa giảng cho bà thế là đủ”.
Đáp trả xong món nợ ân tình ngày nào, trách nhiệm của Ngài đã xong, phận sự cũng chẳng còn gì để làm, Ngài đã viên tịch Níp-bàn không còn dư sót chút đau khổ nào. Ngày đó nhằm ngày trăng tròn tháng Kattika (khoảng tháng 10 âm lịch).
Toàn bộ cuộc đời Ngài đã cống hiến hết cho sự nghiệp hoằng pháp, là bậc Tướng quân Chánh Pháp, bậc Thượng thủ Thinh văn bên tay phải của đức Thế Tôn, vậy mà đến phút cuối cuộc đời, Ngài vẫn không quên báo đáp thâm ân của đấng sinh thành.
3. Tôn giả Rāhula.

Trong đêm ra đi vĩ đại nhất trong lịch sử loài người của Bồ-tát Siddhattha, công chúa Yasodharā đã gạt lệ nhớ thương và đơn thân nuôi dưỡng Rāhula ròng rã bảy năm trường trong cô đơn, khắc khoải. Với tình thương vô hạn của mẹ và sự giáo dưỡng chu toàn của ông nội Suddodhana theo phương cách của một hoàng nam mang dòng máu Sakya, Rāhula bẩm thụ một khí chất đặc biệt so với những đứa trẻ đồng trang lứa.
Mặc dù chưa hình dung ra dáng vẻ của cha, nhưng khi được mẹ bảo rằng, bậc dẫn dầu đoàn Sa-môn hôm ấy chính là người cha khả kính đã biền biệt bao năm qua, Rāhula đã vâng theo lời mẹ dạy một cách tuyệt đối và chạy đến cầu xin Đức Thế Tôn: hãy ban cho con phần thừa kế[17].
Khi được đức Thế Tôn hứa khả và huấn thị Tôn giả Sāriputta đưa về tịnh xá để làm lễ xuất gia, Rāhula cũng tùy thuận nghe theo mà không hề có một chút phản kháng. Do lòng từ vô hạn của đức Thế Tôn nên Rāhula cảm thấy bóng che của Ngài thật an lạc, và đã an tâm đi theo Ngài, dù chỉ lần đầu gặp gỡ. 
Từ ý thức chấp hành lời dạy của mẹ, của người lớn từ thuở bé, nên khi được sống chung với tập thể những người xuất gia, Rāhula luôn vâng giữ những điều khuyên răn của các bậc trưởng thượng, mà ở đây là việc vâng giữ những giới điều do Phật chế định ra.
Một lần nọ, bị những vị khách tăng lớn tuổi chiếm dụng chỗ ngủ của mình, Sa-di Rāhula không vì thế mà buồn lòng, bực bội, và đã an giấc qua đêm trong nhà vệ sinh của Đức Phật[18]. Mãi đến khi trời gần sáng, Đức Thế Tôn cần sử dụng nhà vệ sinh mới phát hiện ra Sa-di Rāhula nằm ngủ còng queo trên nền đất lạnh. Chứng kiến cảnh tượng đó, Đức Thế Tôn đã chỉnh lý bổ sung những thiết định giới luật đã ban hành trước đó. Không ỷ lại tình thống thuộc, thân quen, tuân giữ nghiêm túc những quy định về giới luật, tự chủ và giản đơn trong nếp sống, sinh hoạt của mình, là đặc thù riêng có của nhân cách Sa-di trẻ tuổi Rāhula.
Đức Phật đã khéo dẫn dụ hình ảnh thau nước bẩn và cái gương soi để giáo hóa Rāhula. Một thau nước bẩn chỉ có thể đổ đi và không có thể dùng vào được việc gì; người nói dối cũng vậy[19]. Cái gương soi phản ảnh lại tất cả những hành động, dung nghi của mình. Những điều không tốt thì nên tránh xa và những điều thiện pháp thì hãy nỗ lực thực hiện. Những nỗ lực của người cha - Đức Phật - đã được đền đáp, vì cuối cùng, Sa-di Rāhula đã xứng đáng là một vị đệ tử tối thắng về hạnh hiếu học[20].
Nỗ lực cần cầu học hỏi của Rāhula rất mạnh mẽ, đôi khi vì ham học mà quên cả việc khất thực thức ăn. Kinh điển ghi lại rằng, một sáng nọ từ tinh xá Jetavana, Rāhula theo chân Đức Thế Tôn vào kinh thành Sāvatthi khất thực, đang trên đường đi, Đức Thế Tôn đã tùy thuận nhân duyên nên đã có bài thuyết giảng về giáo lý Vô ngã. 
 Bài thuyết giảng đã thu hút Rāhula chăm chú lắng nghe. Sau khi nghe xong, Rāhula quyết từ bỏ chuyến đi khất thực mà trở về tinh xá với bụng đói meo, để kịp thời quán niệm về pháp hành vừa được Đức Phật chỉ dạy. Nhờ sự tinh cần đó, Rāhula chứng đắc A-la-hán khi tuổi còn rất trẻ[21]. Và cũng nhờ đắc Thánh quả rất sớm nên ngay cả ma vương Vasavattī cũng không hù dọa được Tôn giả Rāhula[22].
Với tự thân, Rāhula đã có những nỗ lực tuyệt vời, với mẫu thân, Tôn giả đã thể hiện vai trò một người con hiếu rất mực cảm động. 
Một lần Rāhula đến thăm thân mẫu là Tỳ-kheo ni Bimbādevī, tên khác của Yasodharā sau khi xuất gia, thì được biết mẹ đang bị sình bụng, khó tiêu nên không ra tiếp chuyện được. Biết mẹ không khỏe nên Rāhula lo lắng vô cùng. Rāhula vào tận giường và thưa rằng,
- Mẹ phải dùng thứ gì mới khỏi được?
Bà đáp:
- Con ơi, nếu như hồi còn ở nhà thì cơn đau này thường được chữa bằng nước xoài có pha với nước đường; nhưng giờ đây, chúng ta đang sống bằng khất thực thì kiếm đâu ra thứ đó?
Vị Sa-di đáp:
- Con sẽ kiếm thứ ấy cho mẹ.
Và Rāhula ra đi. Rāhula đến xin cầu cứu Trưởng lão Sāriputta:
- Bạch thầy mẹ con đang mắc chứng sình bụng.
- Thế người phải dùng thứ gì?
- Có nước xoài ép với đường thì người mới khỏi bệnh.
- Ðược rồi, ta sẽ có, con chớ lo!
Thương đệ tử, Trưởng lão Sāriputta đã vào cung vua Kosala và có được nước ép xoài trị bệnh. Nhận được nước ép xoài từ sự trợ giúp của sư phụ Sāriputta, Rāhula khoan khoái vô cùng vì đã tìm được thuốc chữa bệnh khó tiêu cho thân mẫu[23].
Tình thương mẹ của Rāhula không dừng lại ở đó, vì trong một lần khác, bà Rāhulamātā lại bị bệnh đau bao tử, và cũng nhờ lòng hiếu thảo của Rāhula nên sư phụ Sāriputta lại một lần nữa đã gia tâm hỗ trợ, bằng cách giúp Rāhula xin bữa cơm trộn bơ tươi và cá hồng phù hợp cho bà Rāhulamātā[24]. 
Từ những nỗ lực của Rāhula trong việc chăm lo cho thân mẫu bằng những gì có thể, đã cho thấy rằng, hiếu thảo với cha mẹ là đạo lý cơ bản của con người, bất luận xuất gia hay tại gia. Cũng từ đây đã mở ra cho những người mang thân phận làm con, những bài học lớn về việc rèn luyện những phẩm hạnh đạo đức cơ bản.
Bữa ăn cúng dường đại diện mẫu thân của Tôn giả Sāriputta, bát nước xoài, bữa cơm bơ trộn với cá hồng của Tôn giả Rāhula đều là bắt nguồn từ tình thâm mẫu tử, nhằm đáp lại tấm ân tình cao cả của bậc làm cha làm mẹ. Dù chỉ có bấy nhiêu thôi, nhưng cái giá trị nhân văn từ những bậc long tượng của Giáo pháp khiến cho bao hàng hậu học ngưỡng phục và nương theo.
4. Những câu chuyện tiền thân:

Thế Tôn đã hướng dẫn và tiếp độ quyến thuộc một cách trọn vẹn, đem đến cho mọi người nếm được hương vị bất tử của Chánh pháp và đến khi vua cha thăng hà, chính Thế Tôn đã tự thân châm lửa trong buổi lễ trà tỳ của vua cha. Hướng cha mẹ đến với thiện pháp, còn hơn thế nữa, Thế Tôn đã đem đến cho họ được uống chính dòng sữa Giáo pháp thanh tịnh vô cùng tận[25]. Không chỉ ở trong kiếp hiện tại mà thôi, từ vô lượng kiếp trong quá khứ, khi còn là vị bồ-tát, Ngài cũng đã là một tấm gương sáng về hiếu hạnh. Ngài không từ chối bất cứ một hy sinh nào, miễn cha mẹ được sống còn và khỏe mạnh, dù phải móc mắt làm thuốc, moi tim thế mạng hoặc từ bỏ ngai vàng đế nghiệp để được sớm hôm phụng dưỡng mẹ cha...
Chuyện Lộc Vương Hoan Hỷ (Tiền thân Nandiyamiga)[26]
Thuở xưa, khi Bồ-tát sanh làm con nai chúa tên Nandiya rất hiếu thảo với cha mẹ. Vua trị vì Kosala rất thích săn bắn. Các cuộc đi săn của ông và tuỳ tùng đông đảo làm hư hao mùa màng của thần dân rất nhiều. Dân chúng cùng nhau bàn bạc kiến tạo một lâm viên, đào một hồ nước và gieo cỏ mọc lên, rồi vào rừng đuổi bắt bầy nai về để nhà vua săn hầu tránh thiệt hại cho mùa màng.
Nandiya hy sinh tính mạng của mình vì cha mẹ và trốn theo đoàn nai vô vườn. Nai trong đoàn đồng ý hy sinh từng con một cho cuộc săn bắn của nhà vua. Bầy nai chuẩn bị chờ đến phiên mình, con nào đến phiên phải đứng sang một bên, rồi họ mang nó đi khi nó đã bị bắn chết. Nandiya cứ uống nước trong hồ và ăn cỏ, nhưng chưa đến phiên mình. Mặc dù nai chúa biết rằng mình chắc chắn có thể nhảy rào trốn đi. Song vì đã thọ hưởng thức ăn nước uống đầy đủ của đức vua và việc ấy đối với nai chúa như một món nợ. Ngoài ra, nai chúa đã sống lâu nay với bầy nai này, thật không hợp lý nếu ra đi mà không làm ích lợi cho đức vua và bầy nai nữa, hoặc không chứng tỏ sức mạnh của ta. Vì vậy bồ-tát nai chúa vẫn chờ cho đến khi nào đến lượt của mình, sẽ làm lợi ích cho cả người lẫn vật rồi an vui trở về. Mặc dù nhận được tin cha mẹ đang trông ngóng con về, nhưng bồ-tát vẫn quyết ở lại theo tâm nguyện của mình.
Lúc tới phiên mình, không sợ hãi, Nandiya xuất hiện với tâm từ ái. Tâm từ ái này khiến nhà Vua không thể bắn tên được. Trái lại, vua cho Nandiya một ước nguyện và Nandiya ước nguyện cho mọi chúng sanh được an lạc. Sau đó, nhà vua bỏ đường ác và cai trị theo chánh pháp.
Chuyện Hiếu Tử Sutana (Tiền thân Sutana)[27]
Bồ-tát sanh làm con của một gia đình nghèo, tên Sutana và chăm lo phụng dưỡng cha mẹ già. Một hôm, nhà vua trị vì Benares đi săn, đến nghỉ lưng dưới gốc cây đa bên đường. Trên cây đa có Dạ xoa Makhādeva trú; Dạ xoa được phép của Thiên vương Vessavaṇa bắt ăn thịt ai đến gần trú xứ của mình. Bị bắt, nhà vua thương lượng với Dạ xoa thả ông ra để rồi mỗi ngày ông đem cống nạp cho Dạxoa một người với một dĩa cơm. Đạt được thỏa thuận, đức vua được thả ra. Về kinh thành, vua kể chuyện này lại cho quần thần nghe. Các cận thần sắp xếp để đưa những tù nhân đi nạp mạng cho Dạ xoa. Một thời gian sau, không còn phạm nhân nào để đi cống nạp nữa. Nhà vua đem một ngàn đồng tiền ra thưởng cho ai hy sinh cho Dạ xoa. Hiếu tử Sutana tình nguyện ra đi mặc dầu cha mẹ khuyên can rất nhiều. Ông ra đi với một đôi hài vàng, chiếc lọng của vua, thanh gươm và tô vàng đựng cơm. Sutana đến cây cổ thụ, dùng mũi gươm đẩy tô cơm tới chứ không đến gần. Tiếp theo hai bên nói lên những bài kệ giao tiếp với nhau và Sutana chinh phục được Dạ xoa. Sau đó ngài ra đi cùng quỷ Dạ xoa, bảo nó cầm kiếm cùng nhiều vật khác vàđến thành Ba-la-nại. Quân sĩ báo tin Sutana đã trở về cùng quỷ Dạ-xoa. Vua cùng triều thần đi ra đón Bồ-tát và làm chỗ cư trú cho quỷ Dạ-xoa tại cổng thành, rồi sai người đem cao lương mỹ vị cho nó. Xong vua vào thành, lấy trống truyền lệnh hội họp toàn dân trong thành để tuyên dương công trạng của Bồ-tát và phong ngài chức vụ thống lãnh quân đội.
Chuyện Voi Hiếu Dưỡng Mẹ (Tiền thân Mātuposaka)[28]
Một thời, Bồ Tát sanh làm con voi chăm sóc mẹ mù sống trên núi Caṇḍoraṇa. Một hôm, có người thợ rừng đi lạc, voi đã giúp đỡ đưa khỏi ra khu rừng. Người thợ rừng về tâu vua và được vua phái đi bắt voi. Để công đức không bị tổn hại vì phẫn nộ, voi ngoan ngoãn để bị bắt đưa về kinh thành. Voi được nghinh đón trọng thể và phong làm vương tượng.  Nhưng voi không màng ăn uống vì lo cho mẹ. Nhà vua biết voi có mẹ mù, thả voi trở về Hy Mã Lạp Sơn, rồi cho kiến tạo một thị trấn gần chỗ voi trú để tới lui phụng sự voi Bồ Tát và voi mẹ. Sau khi mẹ voi chết, voi đi thật xa đến tịnh xá Karaṇḍaka để phụng sự các trí giả trú tại đây; nhà vua cũng thường đến đó cúng dường chư vị.
Chuyện Hiếu Tử Sāma (Tiền Thân Sāma)[29]
Có chàng trai thuộc gia đình giàu có ở thành Sāvatthi, vì lòng tịnh tín nơi Tam Bảo nên chàng xin đi xuất gia. Khi xuất gia một thời gian, gia đình của vị ấy lâm vào cảnh khốn khó, cha mẹ già phải lang thang xin ăn, khi hay tin cha mẹ như vậy, sầu thương nổi lên và vị ấy buồn khóc thật nhiều, nghĩ rằng mình phải trở về gia đình để lo cho cha mẹ. Nghĩ vậy, trên đường hoàn tục để quay lại quê nhà tại Sāvatthi, Tỳ-khưu ấy đã đến Kỳ Viên để đảnh lễ Phật lần cuối, quán thấy những bất an của vị Tỳ-khưu này nên bậc Đạo Sư đã dạy, một người con đi xuất gia vẫn lo được cho cha mẹ mình. Hôm sau trên đường về, vị ấy đã gặp cha mẹ đang ngồi xin ăn bên vệ đường, không kìm lòng được và đã cúng dường hết cho cha mẹ phần thức ăn mà mình đã khất thực, hôm sau Tỳ-khưu ấy cũng phụng dưỡng cha mẹ bằng cách đó.
Việc làm này của thầy đã gây ngờ vực cho các Tỳ-khưu khác, mọi người nghĩa rằng vị ấy đã phí phạm lễ vật cúng dường và đem cho người thế tục nên đem chuyện này trình lên đức Phật. Thế Tôn cho gọi vị Tỳ-kheo trẻ đến và hỏi:
- Có phải ông đã xuất gia mà còn lấy vật cúng dường của thí chủ đem cho người thế tục không?
Vị ấy thú nhận là có. Rồi bậc Đạo Sư muốn ngợi khen việc làm của ông và nói về một việc cũ của Ngài, liền hỏi:
- Thế ông phụng dưỡng người thế tục nào đó?
- Bạch Thế Tôn, chính cha mẹ của con.
Lúc đó Thế Tôn muốn khuyến khích việc làm của ông hơn nữa, Ngài bảo ba lần:
- Tốt lành thay! Tốt lành thay! Ông đang đi con đường ngày xưa Ta đã đi qua, ngày xưa khi đi khất thực Ta cũng phụng dưỡng cha mẹ Ta.
Các vị Tỳ-kheo khi xuất gia tu hành, dù cắt ái từ thân thực hiện nếp sống viễn ly, nhưng trên phương diện đạo đức xã hội, phụ mẫu tình thâm nên vẫn phải làm tròn bổn phận đạo con. Thời Đức Phật còn tại thế, mỗi khi biết vị Tỳ-kheo nào có hiếu với cha mẹ Ngài đều tán thán, vì trải qua vô lượng a tăng kỳ kiếp, tiền thân của Phật cũng là hiện thân của người con đại hiếu như những câu chuyện tiền thân đã trích lược ở trên.
Chữ hiếu ở mỗi thời khác nhau, do sự khác biệt ý thức và hoàn cảnh xã hội luôn đặt sự nhận thức khác nhau về bổn phận trách nhiệm của người con phải hành xử như thế nào cho trọn tình hiếu nghĩa với cha mẹ. Chính vậy, trong buổi giao thời chữ hiếu rất hệ trọng, ngày nay kỹ nghệ thông tin bùng nổ như thác lũ, chúng ta sẽ tiếp nhận rất nhiều nguồn thông tin: Internet, truyền hình, báo, di động…trong dòng thác đó, tốt có, xấu có, sự thông tin qua lại trong gia đình từ đó ngày một giảm dần, con cái ít nhận thông tin từ cha mẹ, lơ là hiếu đạo, tình cảm xa cách.
Cuộc sống hối hả, tình người hời hợt, kẻ sống đua đòi, háo danh, lắm lúc quên đi tình cảm thiêng liêng nhất là gia đình, quên rằng mình chỉ có duy nhất một người cha và một người mẹ trên đời. Chuyện bao đời nước chảy xuôi chứ chẳng bao giờ chảy ngược, cha mẹ khổ nhọc sớm hôm tần tảo nuôi con ăn học thành tài, làm ông này, bà nọ, là chuyện thường, nhưng khi con thành tài chăm lại cha mẹ không phải là nhiều, thậm chí chuyện con làm phật lòng cha mẹ, có kẻ nghịch tử còn đánh cha chửi mẹ, chuyện đó không phải ít trên các báo hằng ngày.
Một người con có hiếu, sẽ biết phải làm gì để cha mẹ vui lòng, ngược lại bổn phận người làm cha mẹ cũng phải biết làm sao để con nên người. Khi con cái không cần biết cha mẹ thích gì, cần gì vì cái gọi là tổ ấm hạnh phúc riêng tư mà quên bẵng đi cha mẹ mình, tới tháng dấm dúi vào tay cha mẹ vài đồng như một cái máy gọi là xong trách nhiệm, đợi khi cha mẹ qua đời thì làm tang ma thật lớn, sự hiếu thuận tưởng chừng đã muộn nhưng không là chuyện hiếm thời nay.
Chúng ta dường như đang hiện hữu trong cái thời mà thước đo giá trị bị lệch về phía thực phẩm thay vì nhân phẩm, lương thực thay vì lương tâm. Cuộc sống bộn bề, hào nhoáng của thế gian khiến bao người con bị cuốn theo ma lực của tiền tài, danh vọng. Vì thế, những Ngày của Mẹ, Ngày của Cha, tinh thần của mùa Vu Lan báo hiếu như là một lời cảnh tỉnh những người con quay về với cha mẹ để giữ trọn đạo làm con sao cho phải.
Đạo Phật ra đời hơn hai ngàn năm, những gì mà Phật dạy không ngoài mục đích giúp xác lập trật tự bình đẳng và sự bình an cho xã hội loài người trên con đường đoạn tận khổ đau, trong đó đạo hiếu là căn bản. Và những gì torng nội dung bài viết dựa theo tinh thần kinh điển ghi chép lại như là một món quà dành cho những người con trong mùa Vu Lan này. Hãy quay về bên cha mẹ, vì rằng trong cuộc đời này chỉ có cha mẹ là người duy nhất chúng ta đáng phải cúng dường, tôn kính và phụng dưỡng.
Các thế nhân theo Pháp chánh chân,
Chăm nuôi cha mẹ lúc gian truân,
Chư thiên thế giới này ca tụng,
Đời kế cõi thiên hưởng phước phần.
Bhik Samādhipuñño Định Phúc



[1] A.i,62
[2] D.iii,189
[3] A.i,62
[4] S.i,181
[5] A.v,467
[6] D.i,162
[7] DhpA.iii.164
[8] JāA.i,99
[9] ThigA.141
[10] Vin.ii,255
[11] BuA.4
[12] D.ii,225
[13] Trong đời quá khứ có một phú gia ở thành Bārāṇasī thường phát âm cúng dường rộng lớn đến các Sa môn, Bà la môn và bố thí rộng rãi cho những người nghèo khó. Rồi một hôm, phú gia bận đi làm ăn xa, trước khi đi dặn dò vợ chu toàn công việc bố thí cúng dường. Ông đi rồi, người vợ không những chểnh mảng trách nhiệm cúng dường được chồng giao phó mà còn biểu lộ thái độ khinh khi sỉ nhục những người nghèo khổ. Vì tham lam bỏn sẻn, tạo ác nghiệp nặng nề nên khi từ trần bà tái sanh làm ngạ quỷ chịu nhiều khốn khổ.
[14] PvA.78
[15] Bà có bảy người con tất cả: Sāriputta, Upasena, Mahācunda, Revata Khadiravaniya, Cālā, Upacālā và Sisūpacālā.
[16] DhpA.iv,164f
[17] Vin.i,82f
[18] Vin.iii,16
[19] M.i,420
[20] A.i,24
[21] M.iii,280
[22] DhpA.iv,69f
[23] JāA.ii,392f
[24] JāA.ii.433
[25] Ap.ii,531
[26] JāA.iii,270ff
[27] JāA.iii,324ff
[28] JāA.iv,90ff
[29] JāA.vi,69ff

 dientapdongdat2_6748d
Những ngày đầu của tháng Tám, khắp cả nước Thái bắt đầu nhộn nhịp chuẩn bị cho ngày kỷ niệm sinh nhật của Hoàng hậu Sirikit vào ngày 12/08. Bên cạnh ngày sinh của Quốc vương Bhumibol Adulyadej – Ngày của Cha thì ngày sinh kỷ niệm ngày sinh của Hoàng hậu Sirikit được xem là Ngày của mẹ tại Thái Lan. Hoàng hậu được mọi người tôn kính với danh hiệu là "Người mẹ của cả dân tộc", một vị quốc mẫu khiến bao cho bao thế hệ con dân phải kính phục vì đem đến nhiều lợi ích và sự thịnh vượng cho vương quốc và người dân. Vào ngày này, mọi người tổ chức những buổi lễ kỷ niệm khắp ở khắp mọi nơi, khắp các khu phố, hàng trăm, hàng triệu ngọn nến được thắp lên hòa cùng bài hát vang để ca ngợi và tưởng nhớ ân đức của một bậc mẫu nghi thiên hạ.
Còn tại Việt Nam, những cơn mưa nặng hạt của tháng bảy mưa ngâu báo hiệu một mùa Vu Lan lại trở về. Khắp mọi nẻo đường, khắp các ngôi chùa trong lòng người dân Việt lại rộn ràng với tấm lòng của những người con hướng về các đấng sinh thành. Tuy chỉ là hình thức và lòng hiếu thảo không chỉ có một ngày nhưng cũng là một cách để chúng ta tôn vinh, tưởng nhớ ân đức to lớn của các đấng sanh thành. Những đóa hoa hồng sẽ cài lên áo cho những ai còn cha mẹ, những cành hoa trao nhau như một lời nhắn nhủ rằng: bên ta vẫn còn cha mẹ, vậy hãy ráng vận dụng thời gian này để làm một người con hiếu thảo với cha mẹ. Và những cành hoa trắng được trao tặng để an ủi cho những người con mồ côi…
Nói đến cha mẹ, những bậc đã sanh thành, dưỡng dục và cho ta đến với cuộc đời này thì hẳn nhiên trong lòng mỗi người con, cha mẹ đều là những bậc vĩ đại; nhưng với bài viết này, chúng tôi muốn tìm lại, nhắc lại và tưởng nhớ lại những tấm lòng bao la của các bậc làm cha làm mẹ cách đây hơn 26 thế kỷ trước, được ghi lại trong kinh điển và sớ giải. Các vị này chính là hiện thân cho sự bao la, vĩ đại của lòng mẹ và tình thương vô bờ bến của người cha.
04
  1. Hoàng hậu Sirī Mahāmāyā.
Có lẽ không ai mà không biết đến Hoàng hậu Mahāmāyā vì bà là mẹ của đức Bồ-tát trong kiếp cuối cùng nên được tôn kinh với danh xưng là Phật mẫu. Hoàng hậu sánh duyên cùng với đức vua Suddhodana của tộc Sakya, trị vì kinh thành Kapilavatthu và có một người con trai duy nhất là Thái tử Siddhattha, sau này trở thành bậc Đạo sư, đấng Cha lành vĩ đại nhất của thế gian.
Được biết, trước khi Thiên tử Setaketu trên cõi trời Tusita quyết định giáng trần lần cuối cùng, ngài đã quán xét năm điều kiện cần thiết để xác định thời điểm nào, nơi nào và  người mẹ mà ngài sẽ gá thai vào phải như thế nào? Mẫu thân của vị bồ-tát kiếp chót chắc chắn phải là người nữ có nhiều phước báu, thọ trì giới cấm một cách nghiêm ngặt, không thiếu sót, tích trữ được phước thiện ba-la-mật tròn đủ và có phát nguyện trong quá khứ và được thọ ký sẽ trở thành mẫu thân của một vị phật trong tương lai. Bồ-tát Setaketu quán xét và thấy rằng hoàng hậu Mahāmāyā, chánh hậu của đức vua Suddhodana là người có đầy đủ các điều kiện, và tuổi thọ của bà chỉ còn đúng 10 tháng 7 ngày. Ngài thấy được những đức hạnh của hoàng hậu nên chọn bà làm mẹ trong kiếp cuối cùng của ngài để tái sanh, hoàng hậu Mahāmāyādevī sẽ là vị Phật mẫu theo như ý nguyện của bà đã mong mỏi.
Hoàng hậu Mahāmāyā phát nguyện làm mẹ của một vị Phật từ 91 kiếp trước, dưới thời của đức Phật Vipassī. Khi ấy, bà là một trong hai công chúa của Vua Bandhumā. Một hôm, vua cha nhận được tặng vật của chư hầu gồm một mảnh trầm hương vô giá và một vòng bông trị giá trăm ngàn đồng vàng. Nhà vua ban cho bà mảnh trầm hương và cho em gái kế bà vòng bông. Bà mài trầm lấy bột, tươm tất đựng trong hộp để dâng lên đức Phật. Bột trầm được thoa lên thân Phật cũng như rải trong Hương thất của Ngài. Do đó bà được nhìn thấy thân kim sắc của Phật và muốn được làm mẹ người có thân vàng như vậy.[1]
Từ khi Bồ-tát giáng sanh vào bào thai, hoàng hậu Mahāmāyā lúc nào cũng cảm thấy tâm được an vui, thân được an lạc, không một chút cảm giác đau đớn, khó chịu nào khởi lên nơi bà. Hoàng hậu giữ gìn ngũ giới một cách trong sạch, không một chút bợn nhơ, và đặc biệt là hoàng hậu có thể nhìn thấy hoàng nhi của mình với tất cả bộ phận và chân tay, “ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: "Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lạt”.[2]
Sở dĩ hoàng hậu có thể nhìn từ bên ngoài mà thấy được đứa con đang ở trong bào thai như hoa sen của bà là do oai đức của các việc phước mà bà đã làm trong nhiều kiếp quá khứ, nên lớp da trên thân và màu da trở nên sạch sẽ và láng mịn khác thường, không chút tỳ vết. Da ở trên vùng bụng của bà cũng sạch sẽ và láng mịn và trong suốt như tấm kính. Như vậy mẹ của Bồ tát có thể thấy thai nhi bằng mắt thường của bà xuyên qua lớp da mỏng trên bụng như món bảo vật ở trong cái hộp bằng pha lê.
Do oai lực của bồ-tát, bốn vị thiên vương luôn luôn hầu trực và đứng canh gác bốn phương, “không cho một ai, người hay không phải loài người, được hãm hại vị Bồ-tát”[3] trọn mười tháng như thế.
Từ ngày thọ thai đức Bồ-tát, hoàng hậu được Tứ đại thiên vương hộ trì. Bà không còn thiết tha với nam nhơn, và hài nhi trong bụng bà có thể được nhìn thấy từ bên ngoài.  Sau mười tháng mang thai, bà lên đường về quê Devadaha để hạ sanh, theo tục lệ lúc bấy giờ, bà ghé vườn cây sāla ở Lumbinī nghỉ và hạ sanh Thái tử ngay trong lúc bà đang đứng vịn cành sāla. Thế là Hoàng hậu cùng đoàn tùy tùng trở lại Kapilavatthu. Sau khi hạ sinh thái tử được bảy ngày, hoàng hậu Mahāmāyā hết thọ mạng[4], mệnh chung và tái sanh làm một vị thiên nam tại cõi trời Tusita.[5] Đây là thông lệ của một vị Phật mẫu, chớ không phải vì lẽ sanh Thái tử mà chết. Vì người đã sanh ra một đấng Giác Ngộ sau này, người ấy không còn làm vợ người nam nào nữa cả và hơn nữa trong bụng ấy không thể còn chứa một chúng sanh nào nữa được.
Sau khi hoàng hậu thăng hà, đức vua Suddhodana phong cho người em gái của hoàng hậu là Mahāpajāpatī Gotamī trở thành hoàng hậu, thay thế để chăm sóc thái tử.
Vào mùa an cư thứ 7 của Thế Tôn, Ngài đã an cư trên cõi trời Tāvatiṃsā[6] ba tháng mùa mưa và thuyết giảng Abhidhamma cho mẫu hậu của mình, lúc đó đã là một vị nam thiên tử. Sau thời pháp, vị thiên tử chứng đắc được Thánh quả Dự-lưu.
Có thể nói rằng, Hoàng hậu Mahāmāyā là một người mẹ vĩ đại, một vị quốc mẫu của thế gian vì ân đức của bà quá to lớn. Mặc dù ít được đề cập đến trong kinh điển nhưng danh xưng "Phật mẫu – Buddhamātā" đã là một sự tán dương ân đức của Hoàng hậu Mahāmāyā, bà xứng đáng là một người phụ nữ có tầm ảnh hưởng quan trọng, vĩ đại nhất trong lịch sử của toàn nhân loại. Bởi vì danh hiệu Phật mẫu không phải ai cũng đạt được, cho nên người mẹ vĩ đại đầu tiên mà chúng tôi muốn đề cập đến chính là Hoàng hậu Sirī Mahāmāyā.
57
  1. Di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī.
Di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī là em gái của hoàng hậu Mahāmāyā, hai chị em cùng kết duyên với vua Suddhodana. Từ khi sanh ra, các thầy tướng số đã đoán chắc tương lai của hai chị em sẽ có người con là vị vua Chuyển luân vương.
Sau khi hoàng hậu Mahāmāyā thăng hà, đức vua phong cho người em gái của hoàng hậu là Mahāpajāpatī Gotamī trở thành chánh hậu, thay thế để chăm sóc thái tử. Hoàng hậu Mahāpajāpati Gotamī rất thương yêu thái tử và chăm sóc thái tử như đứa con ruột do mình đứt ruột đẻ ra. Di mẫu Mahāpajāpati Gotamī có một hoàng tử, tên là Nanda, khi nhận trách nhiệm chăm sóc cho thái tử, bà đã giao con trai của mình cho các nhũ mẫu chăm sóc để bà có đủ thời gian chăm sóc cho thái tử. Di mẫu được xem như là một mẹ tuyệt vời.
Vào mùa an cư thứ năm 5, đức vua Suddhodana thăng hà, di mẫu cùng 500 công nương dòng Sakya đã tự bỏ tóc, đắp y màu hoại sắc và đi bộ đến Vesāli để xin đức Phật cho nữ giới được xuất gia. Tôn giả Ānanda thấy di mẫu với chân sưng vù, áo lấm bụi bặm, khổ đau, đứng khóc than ngoài cửa nên đã vào bạch xin đức Phật cho nữ giới được xuất gia. Sau đó, đức Phật đồng ý với điều kiện các vị ấy phải chấp thuận tám kính pháp. Và di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī trở thành người đầu tiên xuất gia Tỳ-khưu Ni trong Giáo pháp này. Về sau, chính đức Phật tuyên dương di mẫu là vị đệ tử trưởng tràng trong hàng Ni chúng[7].
Có thể nói rằng, sau hoàng hậu Mahāmāyā, di mẫu Mahāpajāpati Gotamī là người trực tiếp nuôi lớn Thái tử Siddhattha, bà Mahāpajāpatī Gotamī có nhiều công đức đối với đức Thế Tôn, là dì ruột, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa khi người mẹ ruột qua đời[8].
Vào lúc cuối đời, trước khi viên tịch Níp-bàn, Trưởng lão Ni Mahāpajāpatī Gotamī đến đảnh lễ đức Thế Tôn và nói lên những vần kệ cảm động như sau:
Bạch đấng Thiện thệ, con là mẹ của ngài.
Bạch đấng Thiện thệ, hình hài và thân xác này của ngài đã được lớn mạnh là nhờ con.
Nhờ con, ngài đã được uống nước sữa làm dịu đi sự khao khát trong chốc lát.
Đối với hàng phụ nữ, danh xưng “hoàng hậu – mẹ của đức vua” là dễ dàng đạt được. Còn danh xưng “người mẹ của đức Phật” là đạt được vô cùng khó khăn.
Và bạch đấng Đại hùng, nhờ ngài con đã đạt được điều ước nguyện ấy của con. [9]
Chúng ta có thể thấy rằng, một người làm mẹ, suốt đời vì con, lo cho con trưởng thành và khôn lớn, sau này chính người con đó trở thành một chỗ dựa vững chắc cho người cha, người mẹ; đó là một điều hạnh phúc của các bậc làm cha mẹ. Trường hợp này, cả hai vị hoàng hậu đều là những người có công sanh- dưỡng đức Bồ-tát và chính Thế Tôn đã tế độ cho bà, trở thành vị Đạo sư, người Cha hướng dẫn tinh thần vĩ đại nhất trong đời bà.
Bạch đấng Thiện thệ, con là mẹ của Ngài. Và bạch đấng Anh hùng, Ngài là cha của con. Bạch đấng Bảo hộ, Ngài là người ban cho con niềm an lạc trong Chánh pháp. Bạch Ngài Gotama, con được sanh ra bởi Ngài.
Bạch đấng Thiện thệ, hình hài và thân xác này của ngài đã được lớn mạnh là nhờ con. Còn Pháp thân không thể phê phán của con đã được tăng trưởng là nhờ vào Ngài.
Nhờ con, ngài đã được uống nước sữa làm dịu đi sự khao khát trong chốc lát. Nhờ Ngài, con cũng đã được uống chính dòng sữa Giáo pháp thanh tịnh vô cùng tận.
35
  1. Đức vua Suddhodana.
Tấm lòng của hai người mẹ vĩ đại thì tình cha cũng bao la vô bờ bến, đức vua Suddhodana chỉ có duy nhất một vị Thái tử là Bồ-tát Siddhattha. Ngày con từ bỏ cung vàng ra đi, phụ vương không hề hay biết nhưng tình cha thương con rất sâu rộng chắc hẳn vua rất đau lòng. Bao nhiêu thứ cao quý có mặt trên thế gian này, vua đều dành cho con của mình, chỉ mong sau này con nối nghiệp vương tộc mà thôi.
Lúc nghe các Bà-la-môn tiên đoán tương lai của Thái tử Siddhattha, vua Suddhodana dành mọi quyền quý cao sang để giữ chân Thái tử. Lúc ông thấy chân Thái tử đặt lên đầu Đạo sư Asita – vị Tế sư của vua cha và thầy của chính ông, vua Suddhodana rất ngạc nhiên và bắt đầu cung kính đảnh lễ Thái tử[10]. Trong lễ Hạ điền, vào năm Thái tử bảy tuổi, vua đã cung kính đảnh lễ Thái tử lần thứ hai khi ông chứng kiến bóng cây jambu không xê dịch để che cho Thái tử tham thiền[11].  Về sau, khi Thái tử bỏ ra đi để tìm đạo giải thoát, nhà vua càng tin tưởng hơn, tin rằng Thái tử không bao giờ mạng chung trước khi đắc đạo, dầu có tin đưa về triều Ngài đã chết vì khổ hạnh[12].
Sau khi biết được Thái tử, con của mình đã đắc đạo, trở thành một vị Phật Chánh Đẳng Giác, Vua Suddhodana cử sứ giả đi cùng 10 ngàn người đến Veḷuvana ở Rājagaha thỉnh đức Phật về triều, nhưng tất cả đều xin gia nhập Tăng Đoàn sau khi nghe Phật thuyết pháp. Chín đoàn sứ giả ra đi, không một ai trở về, lòng cha càng thêm mong chờ, vua đã gởi Đại thần Kālūdayi đưa lời mời thỉnh Phật mới về Kapilavatthu. Và duyên lành chín muồi, Thế Tôn đã trở lại quê hương lần đâu tiên, tại đây Ngài trú ở Nigrodhārāma. Trong thời gian ở đây, Ngài thuyết cho vua cha nghe truyền thống khất thực của chư Phật, một truyền thống mà Vua cha không biết nên than phiền khi thấy Ngài đi xin của bố thí ngoài đường. Sau bài pháp này, Vua Suddhodana đắc quả Tu–đà-huờn. Tiếp theo, vua đắc quả Thánh Tư-đà-hàm sau khi nghe thời pháp tuỷ hỷ của đức Phật nói sau bữa cúng dường trong cung[13], đắc quả Thánh A–na–hàm sau khi nghe đức Phật thuyết về câu chuyện tiền thân Mahādhammapāla Jātaka[14]. Và vào mùa an cư thứ năm của đức Thế Tôn, vua Suddhoadana đắc quả A-la-hán khi nằm trên giường bệnh được Đức Thế Tôn từ Vesāli về thuyết pháp[15]; có lẽ đức vua là vị cư sĩ đắc A-la-hán tiêu biểu nhất được ghi nhận lại trong kinh điển.
90
  1. Đức vua Bimbisāra.
Vua Bimbisāra trị vì kinh thành Rājagaha của xứ Magadha, lên ngôi vua từ năm 15 tuổi. Lần đầu tiên vua gặp Bồ-tát Siddhattha tại núi Paṇḍava ở Rājagaha; lúc bấy giờ, Bồ-tát chỉ vừa xuất thế ly gia. Nhà vua thấy vị ẩn sĩ trẻ đi ngang qua cung, bèn gởi người theo dõi. Lúc Ngài nghỉ thọ trai, nhà vua đến và mời Ngài về triều làm quan.  Ngài từ chối và bộc bạch ước nguyện mình. Vua Bimbisāra chúc Ngài thành đạt nguyện vọng của mình và yêu cầu Ngài trở lại viếng Rājagaha để tế độ cho mình. Để giữ lời hứa, đức Phật du hành đến Rājagaha ngay sau khi mãn mùa an cư đầu tiên tại Isipatta. Bấy giờ Ngài trú tại Supatiṭṭha trong Laṭṭhivanuyyāna, và Vua Bimbisāra đi với mười hai vạn gia chủ đến đảnh lễ Ngài.  Đức Phật thuyết pháp và mười một vạn gia chủ cùng nhà vua đắc quả Dự-lưu.  Hôm sau, Phật và chúng Tỳ-kheo tuỳ tùng được thỉnh vô cung thọ trai.  Thiên chủ Sakka hiện làm thanh niên dẫn đầu, vừa đi vừa nói kệ tán thán Phật.  Sau buổi thọ trai, nhà vua xối nước phát tâm cúng dường vườn ngự uyển Veḷuvana đến đức Phật, đây là ngôi Tịnh-xá đầu tiên trong Phật giáo[16]. Từ ấy cho đến ngày vua băng hà, trong 37 năm dài, vua Bimbisāra luôn chú tâm lập công đức phát huy đạo pháp. Nhà vua còn thọ trì tám giới sáu ngày mỗi tháng để làm một tấm gương tốt cho thần dân của mình[17].
Vua Bimbisāra băng hà trong hoàn cảnh rất thương tâm. Các nhà tiên tri từng tiên đoán rằng Thái tử Ajātasattu sau này sẽ gieo tai hoạ cho ông.  Do đó, Chánh hậu Kosaladevī muốn phá thai, nhưng nhà vua chẳng những không chịu nghe còn rất thương quý hoàng thái tử ngay từ lúc ra đời. Khi đã trưởng thành, Thái tử Ajātasattu nghe theo lời xúi dục của Tỳ-kheo Devadatta, thái tử sẽ giết cha để xoán ngôi, còn Devadatta sẽ hãm hại Đức Phật để nhận quyền thống lĩnh Tăng đoàn. Thái tử lập mưu giết vua cha xoán ngôi nhưng bại lộ, chẳng những phụ vương không ép tội mà còn chấp nhận thoái vị, truyền ngôi cho thái tử. Lẽ ra đã đoạt được điều mong ước, thái tử phải biết tri ân và phụng dưỡng phụ hoàng chu đáo, nhưng không ngờ tân vương vừa lên ngôi đã bắt giam phụ hoàng của mình vào trong ngục tối, không được ai thăm viếng, trừ hoàng thái hậu Kosaladevī. Bà đến ngục với chiếc chén vàng đầy cơm giấu trong y phục. Được một thời gian thì bị chính đứa con của mình cấm không cho đem thức ăn vào nhà ngục nữa. Hoàng hậu lén giấu thức ăn vào búi tóc đem vô cho vua nhưng cũng bị phát hiện. Hết cách, hoàng hậu phải tắm rửa sạch sẽ rồi thoa mật ong, những thực phẩm thượng vị lên thân thể của mình, rồi đi vào ngục thất, dùng những chất bổ dưỡng ấy cho chồng của mình sống qua tháng ngày. Sự việc ấy cũng bại lộ, hôn quân ngỗ nghịch cấm không cho mẫu hậu vào thăm vua cha nữa.
Một ngày nọ, Ajātasattu cho một người đem dao kéo đến ngục thất, vua cha thấy vậy tưởng con mình đã hồi tâm chuyển ý nên cho người đến cắt tóc, đón mình về cung. Ai ngờ, chính niềm vui ấy đã làm vua cha lầm tưởng. Người thợ ấy được lệnh ông vua con vào trong ngục thất để cắt gót chân của vua cha, xát muối vào trong gót chân và hơ trên lửa nóng[18]. Ôi đau đớn, ôi xót xa. Đau đớn vì vết thương hành hạ thể xác, xót xa vì chính đứa con thân yêu của mình sai người giết mình. Vua Bimbisāra mạng chung, sanh làm Dạ-xoa Janavasabha trong dòng họ của Thiên vương Vessavaṇa
Cùng lúc ấy, ông vua trẻ nhận được tin hoàng hậu của mình đã sanh một hoàng nam. Niềm vui tràn ngập đối với vị vua trẻ lần đầu tiên làm cha. Vua Ajātasattu bồng con đến với mẫu hậu, đã hỏi mẫu hậu xem phụ hoàng có từng thương yêu mình như mình yêu thương con của mình không?
Mẫu hậu kể lại câu chuyện về tình thương của vua cha dành cho thái tử khi thái tử chưa lọt lòng. Khi ấy, các vị quan chiêm tinh đoán biết sau này vị thái tử sinh ra sẽ là người giết cha xoán ngôi nên có ý định khuyên hoàng hậu nên phá thai. Vua cha không chịu. Hoàng hậu cũng đôi lần có ý định như thế rồi đức vua cũng cản ngăn và sẵn sàng chấp nhận sự việc ấy. Đến khi thái tử được vài tuổi, thái tử bị nổi mụn nhọt trên tay, đau nhức khóc lóc dữ dỗi, vua cha đau lòng không biết làm sao nên đã ngậm ngón tay ấy vào trong miệng để thái tử bớt đau nhức. Và đúng như vậy, thái tử đã nín thật. Nhưng mụn nhọt ấy đã chính mùi, máu mủ vỡ ra, vua cha không nỡ bỏ ra để con đau nhức nên đã nuốt luôn những máu mủ hôi thúi ấy vào trong miệng. Mẫu hậu nói với vua con rằng : khó mà kiếm được một người cha thương con hết mình như thế.
Nghe qua câu chuyện của mẫu hậu kể, vị vua trẻ cảm thấy thương cha và hối hận nên liền hối hả chạy đến ngục thất ra lệnh thả phụ hoàng ra. “Thả phụ hoàng ta ra! Thả phụ hoàng ta ra!” Lời vua trẻ sao mà thống thiết nhưng đã muộn rồi, vị thánh vương đã ra người thiên cổ. Không bao lâu sau, Hoàng thái hậu Kosaladevī lâm chung vì sầu muộn.
58
  1. Thiếu phụ Paṭācārā.
Paṭācārā là một tiểu thư rất xinh đẹp, con gái vị thủ ngân khố của nhà vua ở Sāvatthi. Khi đến tuổi trưởng thành, mặc dù được cha mẹ sắp đặt gả cho một gia đình giàu có, môn đăng hộ đối nhưng nàng tư thông với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ nàng định ngày gả nàng cho một công tử, nàng trốn đi với tình nhân. Chàng trai dắt nàng đi thật xa, đến định cư tại một làng nọ, vào rừng phát rẫy cày ruộng rồi đem cây, củi, lá về nhà. Còn tiểu thư thì ở nhà phải ôm bình đi xách nước, chẻ củi nấu cơm, cam lòng chịu làm một người vợ ngheo khổ. Thế rồi nàng có thai. Đến khi thai đã đủ tháng, nàng yêu cầu chồng đưa về nhà cha mẹ để sanh nở, vì ở đây không có ai săn sóc nàng, nhưng chồng cứ hẹn lần hẹn hồi cho đến khi nàng biết chồng nàng không muốn đi về. Nàng liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt công việc, báo tin cho người láng giềng biết rồi nàng bỏ về nhà cha mẹ. Khi người chồng về, người chồng liền đuổi theo, sợ nàng không có người săn sóc. Chồng nàng bắt gặp nàng giữa đường và khi ấy thì nàng sinh được người con trai, rồi hai vợ chồng lại đi trở về nhà sống như trước.
Một thời gian sau, nàng lại có mang. Khi thai đủ tháng, nàng cũng van xin chồng như trước mà không được, rồi cũng lén chồng ẵm con ra đi. Chồng nàng đuổi theo gặp nàng, nhưng nàng không chịu trở lại. Người chồng tìm lá và cây làm cái chòi cho nàng tránh mưa, nhưng bị con rắn từ gò mối bò ra cắn chồng nàng chết tại chỗ. Trong cơn đau khổ chờ đợi chồng, nàng bồng đứa con trên ngực và giữa mưa to gió lớn nàng nằm phục xuống đất để che chở cho hai đứa con trải qua một đêm như vậy cho đến sáng.
Ðến sáng, nàng đi tìm chồng và thấy chồng bị rắn cắn chết rồi. Nàng khóc than suốt đêm. Vì mưa to, nước sông dâng lên đến đầu gối, nàng lại quá yếu nên không thể bồng hai đứa con lội qua sông. Nàng để đứa lớn ở bờ bên này và bồng đứa nhỏ lội qua sông. Rồi nàng đặt đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại để nó trên bờ, còn nàng lội qua sông lại để đem đứa lớn qua. Nhưng đến giữa dòng, quay mình trở lại thời thấy một con diều hâu, tưởng đứa con nít là một miếng thịt, nên bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dầu cho người mẹ có xua đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Còn đứa lớn bên bờ bên này, nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ kêu liền lội xuống nước đi qua và bị nước cuốn trôi. Thế là hai đứa con và cả người chồng bị chết. Nàng vừa khóc vừa đi về thành Sāvatthi.
Khi đi vào thành, nàng lại biết tin trận mưa to gió lớn đêm hôm đã làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ nàng, cả cha mẹ và người em đều thiệt mạng, mọi người vừa làm lễ hỏa táng xong. Trong cơn đau khổ khủng khiếp chồng chất, nàng hóa điên dại, ăn mặc hở hang, nàng vừa khóc vừa than:
Chết rồi hai đứa con thơ,
Giữa đường chồng chết, bơ vơ một mình.
Mẹ, cha, em ở gia đình,
Lửa thiêu mất xác bóng hình còn đâu.[19]
Rồi nàng đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ của nàng, và vì nàng mang xiêm áo tả tơi, nàng được gọi là Paṭācārā (kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy nàng gọi nàng là người điên, có kẻ ném đá, có người thì quăng đồ nhớp bụi bặm trên nàng.
Khi ấy, Thế Tôn đang thuyết pháp ở Jetavana, Ngài thấy nàng đi lang thang như vậy và biết căn cơ trí tuệ của nàng đã chín muồi, ngăn cản không cho người ta xua đuổi nàng và cho phép lại gần, khiến nàng hồi tỉnh lại. Ngài nói cho nàng hiểu cái chết là điều không thể tránh, và thuyết dạy về Tứ diệu đế. Sau bài pháp thoại, nàng đắc quả Dự lưu và xin được xuất gia[20]. Một thời gian sau, nhờ nỗ lực tu tập và được đức Thế Tôn hướng đạo, Tỳ-khưu Ni Paṭācārā đắc quả A-la-hán[21]. Về sau Tỳ-khưu Ni Paṭācārā trở thành một vị trưởng lão ni mà nhiều phụ nữ bị sầu khổ chi phối thường đến xin bà chỉ giáo[22]. Tỳ-khưu Ni Paṭācārā được đức Phật tuyên bố là vị đệ tử tối thắng về trì Luật bên hàng Ni chúng[23].
59
  1. Nàng Kisā Gotamī.
Nàng tên thật là Gotamī, con gái của một gia đình nghèo khổ trong kinh thành Sāvatthi, vì nàng yếu đuối nên thường bị gọi là Kisā Gotamī (Gotamī ốm yếu). Khi lập gia đình, nàng bị gia đình chồng khinh thường và được gọi là con gái một người không có gì. Nhưng khi nàng có con, nàng được bên nhà chồng thương yêu, chiều chuộng rất nhiều. Hạnh phúc đẹp như một giấc mơ bất thình lình vụt mất, khi đứa bé vừa đến tuổi có thể chạy được, nó bất ngờ bệnh rồi chết.
Chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng như thế, nàng cảm thấy đau đớn tột cùng, và ôm đứa con chết vào lòng và đi vào từng nhà xin thuốc cứu con. Người dân cho là nàng vì thương con mà hóa điên nhưng nàng đâu biết gì, chỉ mong tìm thuốc cứu sống đứa con thân yêu và cũng là cứu sống hạnh phúc của gia đình nàng. Tấm lòng của người mẹ bao la, nàng bồng con đi hết xóm này đến làng khác nhưng không ai có thể cứu nỗi một cái xác chết như thế.
Và rồi, có người thương xót khuyên nàng đến đức Phật để xin thuốc. Không biết đức Phật la ai, vị thầy thuốc đó như thế nào, nhưng vì con, nàng cũng lần đường đến Tịnh-xá để xin đức Phật cứu giúp đứa con yêu của mình. Thế Tôn thấy được căn duyên của nàng, bèn nói: "Hãy đi đến nhà nào không có người chết, và xin một nhúm hạt cải về đây."
Nàng vâng lời, đi vào nhà đầu tiên và yêu cầu như vậy, nhưng bị từ chối, vì trong nhà có người chết. Nhà này sang nhà kia, thôn này sang xóm nọ, hạt cải thì nhà nào cũng có nhưng không tìm đâu ra được nhà nào chưa từng có người chết. Thế rồi, duyên lành giác ngộ đã đến, nàng nhận chân được lời dạy khéo của Thế Tôn. Tình thương dành cho con đến đây vừa phải lẽ, nàng đem con vào nghĩa địa rồi trở về tịnh-xá xin gia nhập vào Ni đoàn của đức Thế Tôn[24]. Một thời gian sau, Tỳ-khưu Ni Kisā Gotamī chứng đắc Thánh quả A–la–hán[25] và được đức Phật tán dương là vị đệ tử Tỳ-khưu ni đệ nhất về đặc hạnh mang thô y (lūkhacīvaradharāṇaṃ)[26].
Mỗi người một hoàn cảnh, từ những vị vua chúa, từ một gia đình giàu có cho đến một người nghèo khổ, tất cả những người làm cha làm mẹ luôn có một tấm lòng từ ái, bao dung với con cái. Tình thương vô cùng vĩ đại đã trở thành những trái tim bất diệt trong máu huyết của chúng ta. Chỉ khi nào trở thành cha của đứa bé, chỉ khi nào mang nặng đẻ đau mới thấy được ân đức sâu dày, cực khổ của cha mẹ là thế nào. Sông có lúc nước ròng, nước lớn, biển có lúc sóng tràn bờ nhưng cũng có lúc êm đềm nhưng tình cha mẹ với con cái luôn nồng ấm và tràn đầy cả một tấm lòng, cả một trái tim nhỏ bé nhưng còn bao la hơn nước bốn bể đại dương.
Kính mừng Ngày của Mẹ (12/08) của Thái Lan và Vu Lan báo hiếu ở Việt Nam, kính chúc tất cả những đấng sinh thành luôn nhiều sức khỏe, an lạc và mãi là bóng mát trong đời của những người con.
Bhik Samādhipuñño Định Phúc.

[1] JāA.vi,480ff
[2] D.ii,14
[3] D.ii,13
[4] Hoàng hậu mệnh chung không phải vì sau khi sanh thái tử mà vì tuổi thọ đã hết. Chúng ta hãy xem lại năm điều kiện của bồ-tát khi quán xét trước lúc giáng trần, tuổi thọ của Phật mẫu chỉ còn lại 10 tháng 7 ngày.
[5] ThagA.ii,226
[6] BuA.4
[7] A.i,25
[8] Vin.ii,255
[9] Ap.ii,531
[10] JāA.i,54
[11] JāA.i,57f
[12] JāA.i,67
[13] JāA.i,99
[14] JāA.iv,55
[15] ThigA.141
[16] Vin.i,35
[17] PvA.209
[18] Trong một tiền kiếp, ông đi giày trong sân của một tịnh xá nên ngày nay phải chịu khổ ấy.
[19] Chú giải Kinh Pháp cú, kệ số 113 (Cố Trưởng lão HT Pháp Minh dịch Việt).
[20] DhpA.ii,260ff
[21] DhpA.iii,434f
[22] ThigA.47,117,122
[23] A.i,25
[24] DhpA.i.270ff
[25] ThigA.174ff
[26] A.i,25
Bài đăng cũ hơn Trang chủ


  • BÀI MỚI NHẤT
  • NHẬN XÉT MỚI NHẤT

ĐƯỢC QUAN TÂM

  • Ngày ấy tôi ra đi (Định Phúc)
  • Happy Birthday 25th
  • TRƯỞNG LÃO BAKKULA - Đệ nhất hạnh vô bệnh (Định Phúc)
  • Lễ An vị kim thân Đức Phật và Dâng Y Kathina tại Chùa Thanh Phước (Bình Long - Bình Phước)
  • ĐỜI KHÔNG CHA (Quach Khang Huy)

Thống Kê

LIÊN KẾT WEBSITE

  • người áo lam
    KHAI BÚT ĐẦU XUÂN CANH TÝ - Trong 12 con giáp thì có lẽ con Chuột là loài vật thân thuộc nhất mà mỗi chúng ta gặp nhiều nhất. Chuột cũng được nhắc rất nhiều đến trong ca dao tục ngữ...
    6 năm trước
  • Chùa Ngưỡng Quan
    -
  • Chánh Đạt Online
    -

Con Người Tỉnh Thức


http://www.nguongquan.com/


2011 Định Phúc. All rights reserved.
Mọi thắc mắc thư từ bài vở xin liên lạc samadhipunno@yahoo.com
Designed by Thích Trí Giải | Based on SimplexDesign
Thích Trí Giải