• Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên Lạc
  • Đăng nhập
  • Đọc tin RSS
  • Trang Chủ
  • phật pháp
  • kinh tạng
  • luật tạng
  • hình ảnh
  • thơ văn
  • nhật ký
  • sưu tầm
  • truyện ngắn
Bạn Đang Xem : Trang Chủ »
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhật ký. Hiển thị tất cả bài đăng

Trong Phật giáo có câu "Không bệnh tật là tài sản vô cùng quí báu" (Arogayā paramālābhā). Con người từ xưa mới tìm mọi cách để bảo vệ chính mình khỏi bệnh tật, nạn tai để được sống lâu hưởng thụ. Nhưng cách thực hành thì mỗi trường phái, mỗi mỗi người có phương thức khác nhau cả cách nhìn nhận, không muốn tuân thủ, chấp nhận theo sự thật mà cơ thể con người đang tồn tại. Hiểu rõ cách làm việc của cơ thể và tạo thuận lợi cho cơ thể kéo dài sự làm việc trong môi trường và khả năng của chúng là một trong những cách làm có kết quả.

Mỗi cơ quan trong cơ thể đều có những khoảng thời gian hoạt động và nghỉ ngơi khác nhau. Nếu như hay thức quá khuya hoặc không hiểu rõ nó thì sẽ làm đảo lộn cơ chế hoạt động sinh lý của cơ thể, từ đó sẽ gây ra các loại bệnh tật. Đức Phật biết được qui tắc làm việc của cơ thể con người nên ngài đã thực hành (Buddhakicca - Phật sự 5 điều) và truyền dạy vào sinh hoạt của Phật tử từ hơn 2,500 năm qua. Y khoa và khoa học cũng đã chứng minh điều đó:

 1377601_171892699681277_2111742723_n

+ Từ 19h - 21h là thời gian của cơ tim, nó là một thành phần quan trọng của tim và là thời gian hoạt động của hệ tuần hoàn máu. Đoạn 19h, nhiệt độ cơ thể tăng lên tối đa, người bị bệnh ngoài da phải để ý trong thời gian này. 

+ Từ 21 - 23h là quãng thời gian hệ miễn dịch (bạch cầu lymph) bài độc (đào thải chất độc), lúc này nên ở trạng thái yên tĩnh, hành thiền hoặc nghe âm nhạc thư giãn, nghe Pháp thoại. Đức Phật dành thời gian từ 19h đến 23h này thuyết Pháp, nói chuyện, ban giáo huấn cho chư sư.

+ Từ 23h – 1h sáng là quãng thời gian bài độc của gan, cần tiến hành trong khi ngủ say. Thời gian này chỉ có chư thiên từ các cõi trời xuống trần gian để vấn đạo đức Phật hoặc các vị có công hạnh, đạo hạnh thâm sâu. 

+ Từ 1h – 3h sáng là thời gian bài độc của mật, cũng cần thực hiện trong giấc ngủ say. Chỉ có đức Phật và các vị hành thiền thức vào lúc này mà không ảnh hưởng sức khỏe vì các ngài đã làm chủ được hoạt động tâm sinh lý nhờ loại hoocmon đặc biệt! Những ai mơ mộng vào giai đoạn 23h - 3h này phần nhiều chính xác do chư chư thiên mách bảo.

+ Từ 0h - 4h sáng là thời gian tủy sống tạo máu, cần phải ngủ say, không nên thức khuya. Đức Phật cũng sẽ nghiên lưng nghỉ ngơi chốc lát vào tàn canh này.

+ Từ 3h – 5h sáng là thời gian bài độc của phổi. Cũng chính là lý do tại sao mà người đang mắc bệnh ho lại hay ho dữ dội vào lúc này, bởi hoạt động bài độc đã chạy đến phổi. Vì thế, không nên dùng thuốc chống ho để tránh gây cản trở việc đào thải các chất cặn bã trong người vào lúc này. Thức dậy sớm như các nhà sư để tập thể dục cho phổi bằng cách hít thở không khí trong lành, tụng kinh, học bài trước khi đi học... Các sư, tu sĩ, Phật tử thường thức dậy tụng kinh sáng vào khoản thời gian này. Một số người thường có thói quen thức dậy phải hút thuốc để khỏi nhạt miệng là thói quen vô cùng độc hại cho phổi! Đức Phật cũng biết là sau khi họ tụng kinh, hành thiền, có ai tâm đạo và phước tuệ vững mạnh hay không để ngài đến tiếp độ.

+ Từ 5h – 7h là khoảng thời gian ruột già bài độc, cho nên cần đi toalet vào lúc này. Đi vệ sinh đi chứ để chất thối, chất độc trong người làm gì. Nếu không, qua thời gian này, cơ thể sẽ hút nước và thức ăn ở đây trở lại (trong đó là độc tố dư thừa cần thải). Mà đi trễ lại phải đợi nhau làm chi cho khổ. Nước tiểu để lâu bên trong lại đóng cặn thành sỏi nữa. Một trong những phương pháp kích thích sự đào thải chất dư thừa độc hại trong cơ thể thì người ta hay uống nước ấm sau khi ngủ dậy hoặc uống trà nhạt nhạt... chắc chắn đi ngoài sẽ rất thuận lợi.

+ Từ 7h – 9h là lúc ruột non hấp thụ chất dinh dưỡng nhiều nhất, cho nên cần phải ăn sáng. Những người đang phải trị bệnh tốt nhất ăn sớm hơn, từ trước 6h sáng, còn với người ăn dưỡng sinh thì ăn trước 7h sáng. Những người không ăn sáng cần thay đổi thói quen xấu này, dù có đợi đến 9, 10h mới ăn cũng tốt hơn là không ăn. Nhà sư Phật giáo Nguyên Thủy sẽ đi khất thực giờ này để ăn sáng mà không ăn chiều và tối cũng là lý do đó. 

+ Từ 9h - 11h là thời gian của lá lách và tuyến tụy. Lá lách hoạt động như hệ thống miễn dịch của cơ thể. Loại bỏ máu đỏ xấu đi. Tuyến tụy sản xuất enzyme giúp tiêu hóa thức ăn trong ruột non. Cơ thể năng nổ và rất tích cực thuận lợi cho làm việc hay hoạt động. Không chỉ có Phật giáo mà các trường học, công sở cũng tích cực hoạt động vào khung thời gian này.

+ Từ 11h - 13h là thời gian của tim. Là cơ quan quan trọng nhất, bơm máu và chất dinh dưỡng cho não và đi khắp cơ thể. Giai đoạn này, huyết áp sẽ tăng lên đáng kể, những người có triệu chứng rối loạn tuần hoàn máu hoặc nhịp tim sẽ đổ mồ hôi rất nhiều và cảm thấy nóng nãy. Các sư sẽ chọn dùng trưa vào thời điểm này dưới bóng cây mát mẽ (chuyện ngài Assaji thọ thực, nhà sư hiện nay độ ngọ) hoặc trong hang động, bên bờ sông... để tim hoạt động thoải mái, giảm nhiệt độ, nghỉ trưa dành năng lượng cho tim làm việc.

+ Từ 13h - 15h là thời điểm ruột non tiêu hóa và hấp thu thức ăn. Nếu không ăn trưa hoặc ăn không vừa đủ sẽ cảm thấy đói và khó chịu. Người ta thường ăn vặt là vậy.

+ Từ 15h - 17h là thời gian bàng quang lưu trữ nước được lọc qua từ thận. 17h tim mạch và cơ bắp trong cơ thể cứng rắng mạnh mẽ phù hợp với việc tập thể dục, làm cặn bả trôi chảy thuận lợi, bài tiết ra ngoài qua mồ hôi.

+ Từ 17h - 19h là thời điểm của thận lọc chất thải từ máu và làm cân bằng sinh lý trong cơ thể. Đoạn 18h, huyết áp tăng cao, nên uống nhiều nước sạch (không uống nước đá) và không nên ngủ trong thời gian này (Làm cho cơ thể khó ngủ vào ban đêm). Các chùa thường tụng kinh chiều và hành thiền vào thời gian này để điều hòa huyết áp. Đồng thời có những thứ nước sinh tố (gọi là Atthabana - có 8 loại) đức Phật cho phép dùng vào buổi tối, một phần cung cấp thêm nước cho cơ thể.

Chúng ta sẽ nhận thấy một điều quan trọng nữa là từ sau 15h trở đi cho tới khuya, các bộ phận tiêu hóa không làm việc. Trong Phật giáo, các sư, và Phật tử giữ giới không ăn tối là một chứng minh rằng cơ thể không cần thiết chất dinh dưỡng vào thời gian này. Và sẽ tiếp năng lượng cho cơ thể vào sáng ngày hôm sau một cách ngon miệng. Do đó, việc ăn bữa tối bắt buộc bộ phận tiêu hóa phải làm việc tăng ca đương nhiên sẽ giảm tuổi thọ cho cơ quan này. Đồng thời, chất dinh dưỡng mà cơ thể không cần thiết ấy khi vào trong rồi xử lý thế nào? Cơ thể mang trữ ở các tế bào và làm con người có chứng béo hay béo phì là vậy.

Vẫn biết những chi tiết nêu trên là có cơ sở cả nghiên cứu khoa học, y khoa và cả Kinh điển lẫn lối sống an lạc của Phật giáo nhưng ái dục của con người luôn không nghe lời để tốt hơn mà luôn xúi dục mình làm những thứ theo ý mình bởi năng lực của Tham Sân Si. Dó đó, những người thương yêu chính mình thật sự sẽ chiến thắng được chính mình để thực hành theo, mong một cuộc sống an lạc,giảm bệnh tật bằng cơ thể khỏe mạnh cả thân lẫn tâm. 

Ngũ uẩn này sinh ra là khổ, rồi sẽ hư hoại theo định luật tự nhiên nhưng phải biết bảo trì, sử dụng nó để hành đạo và làm lợi ích. Hãy cố gắng tự nhắc mình và chung tay giúp đỡ chăm lo cho những người thân yêu. Sadhu, lành thay.

Minh Kiến.

----------------------------------------------------
Tham khảo:
1. อรพินทร์ เชียงปิ๋ว. นาฬิกาชีวภาพ. วารสารวิทยาศาสตร์. 2550;1:47-54
2. นาฬิกาชีวิต (http://บ้านสุขภาพล้างพิษตับ.blogspot.in/2013/05/body-cloak.html)
3. Ngủ muộn - Tự giết chính mình (https://www.facebook.com/vinaresearchvn/posts/488508827911774)
4. Thời gian biểu cho sức khoẻ của bạn (http://giaoduc.net.vn/Suc-khoe/Suc-khoe-360/Thoi-gian-bieu-cho-suc-khoe-cua-ban/171997.gd)

Theo: FB Minh Kiến Dhammaghosa
13h ngày 9 tháng 3 năm 2557 - 2014, tại Wat Saket Rajaworamahaviharn (Bangkok) đã trang nghiêm cử hành nghi lễ cung tiễn nhục thân của đức Trưởng lão Somdet Phra Buddhacharn -  đức Đệ nhất Phó vua sãi Tăng già Phật Giáo hoàng gia Thái Lan từ Wat Saket đến đài hỏa tảng tại Wat Thepsirin Rajaworaviharn để thực hiện nghi thức hỏa táng.
Đến tham dự và cung nghinh nhục thân của Hòa thượng Phó vua sãi gồm có các thành viên của Hội đồng Tăng già tối cao Phật Giáo Thái Lan, đại diện các ban ngành chính phủ cùng với sự hiện diện của tăng tín đồ ở khắp mọi nơi vân tập về.
Hòa thượng Somdet Phra Buddhajarn viên tịch vào ngày 8 tháng 10 năm 2556 - 2013 tại bệnh viện Samitivej, trụ thế 85 tuổi. Nhục thân của Ngài được tôn trí tại bổn tự Wat Saket trong 7 tháng theo truyền thống dành riêng cho các vị thành viên tối cao của Giáo hội Tăng già Thái Lan.
Xin giới thiệu một vài hình ảnh của đoàn cung nghinh nhục thân của Ngài từ Wat Saket:


























cau-chuyen-ve-con-duong
Cũng gần mươi năm từ ngày cất bước ra đi trở thành một người hành khất homeless và cô đơn giữa chốn đông người. Mươi năm nhìn lại, kẻ còn, người mất. Âu thì ai cũng tự tìm cho mình một con đường riêng, một góc khuất riêng và một chân trời riêng. Đạo hay đời, ừ thì cũng chỉ là một con đường và cũng vẫn là buồn vui, khổ lạc của thế gian. Đạo cũng từ đời mà ra, há chẳng phải ngày xưa Bồ-tát Sĩ-Đạt-Ta đã bỏ đời để tầm đạo sao.
À, mà cũng mấy lần tự hỏi mình. Sao chúng ta lại có nhiều khái niệm oan trai dữ lắm luôn. Người đi tu thì gọi là xuất gia, sao không gọi là xuất đời? Vậy mà đến lúc đương sự hoàn tục trở về nhà thì sao không gọi là hồi gia mà gọi là ra đời? Lúc nào chúng ta cũng đang ở trong đời đấy thôi. Mệt não nhỉ!
Chuyện tu học của mỗi người thì ai nấy đều chọn cho mình một con đường riêng nhưng nói chung cũng là một hành trình khám và phá để tìm ra được đúng con đường mà mình phải đi. Vì lầm đường mà Bồ-tát phải mất 6 năm trường khổ hạnh tận rừng sâu, để rồi một ngày tá hỏa ra và quay trở lại từ đầu. Vậy là khám phá ra Trung Đạo, tức là con đường ở giữa: quá đắm chìm trong ngũ dục cũng chết mà quá khổ hạnh ép xác cũng chỉ khổ thân. Thà cứ thong dung tự tại như thế, đừng bám chấp vào bất cứ cực đoan nào, thế là okie hết thôi. Cuộc tu là những chuyến hành trình để tự tìm con đường cho chính mình. Mà nếu là hành trình thì không thể nào dừng lại và ở hoài mãi được. Chỉ có bỏ lại những bến tàu xưa thì mới có thể tiến lên phía trước. Kẻ đi thuyền qua sông rồi thì bỏ lại thuyền chứ dại gì mà lại vác thuyền đi vòng vòng trên bờ cho thiên hạ dòm ngó với anh mắt nhìn chẳng giống ai.
10 năm, cũng là một thập kỷ nhỉ, chuyến đi dài cho một hành trình xa xăm chưa biết hồi kết thúc. Cứ mỗi bến tàu, mỗi sân ga, ta ghé vào rồi lại tiếp tục lên đường. Đôi lúc tự nghĩ, mình đang tìm cái gì cà? Ừ, thì tìm con đường chứ gì nữa mà hỏi. Con đường tự mình i bằng chính đôi chân của mình, tự tại sống với những gì mình gom góp được trên hành trình. Bao nhiêu gạch đá, bao nhiêu chê khen, thôi thì gom lại xây một cái am nhỏ bằng mây vậy. Một ngày nào đó mây tan, am mất, mọi khen chê cũng từ đấy mà đi luôn. Thế là ta lại thong dong tự tại tiếp tục hành trình tìm kiếm một con đường… Đi tiếp vậy…
 Bangkok mùa nóng, 24 Feb 2557
ĐỊNH PHÚC
 IMG_4838
Suy cho cùng, kiếp người hay cuộc tu chỉ là những lần ghé lại đâu đó. Nói ở nghĩa nào thì người ta không ai có thể chung thân với một thứ gì miên viễn. Mình không bỏ nó thì nó cũng xa mình. Ta có thể mất nó vì nhàm chán hay không còn cơ hội nắm níu. Và cái mà ta yêu nhất cũng có nhiều kiểu bỏ ta ở lại mà đi. Hồi xưa bắt chước theo kinh mà nói gì cũng là bè cỏ qua sông.. Giờ có thêm tí tuổi, nhiều lúc nằm ngẫm nghĩ một mình thấy câu nói ví von đó hay quá chừng, hay đáo để.
Kinh chép ngày xưa có ông đạo sĩ Sumedha thừa sức chứng quả La-hán, nhưng ông không cam tâm giải thoát gọn nhẹ, lặng lẽ và an nhàn như thế. Ông chỉ muốn thành một vị đại giác y hệt Thế Tôn Nhiên Đăng để mà gồng gánh thiên hạ. Phật nhìn kỹ căn cơ của ông không phải loại xoàng, bèn ừ cho một tiếng. Ông vui quá, trở thành bất thối bồ-tát, đời đời thủy chung với đại nguyện của mình. Kinh nói Thế Tôn Cồ Đàm chính là kiếp cuối cùng của ông đạo sĩ Sumedha ngày trước. Khổ tu chừng đó thời gian, thành Phật rồi chỉ sống thêm 45 năm rồi thì bỏ đời mà đi. Trước sau thọ lượng chỉ vừa vặn 80 năm ngắn ngủi. Với Ngài vậy cũng là quá nhiều. Bởi nào ai biết Ngài từng có ý viên tịch từ năm 35 tuổi, ngay sau khi thành Phật. Với những người nặng tình với Phật thì thời gian 80 năm đó chẳng bỏ bèn gì. Đến ngài Ānanda còn thấy Phật đi quá sớm, tôn giả đã khóc thầy bằng nước mắt của một bậc thánh. Thôi thì gì cũng một áng phù vân, khác nhau chăng là mây lành ngũ sắc hay mây xám báo giông. Khoảng ba tháng sau ngày Phật tịch, hiểu ra chuyện đó, tôn giả Ānanda không buồn nữa. Rồi thì đến phiên ngài cũng theo Phật mà đi biệt.
Đó là chuyện của thánh hiền. Còn với phàm tâm thì sao chứ? Lại cũng vẫn là chuyện được rồi mất. Mất có hai cách: Không muốn giữ nữa nên buông hay bàn tay quá yếu không đủ sức nắm níu nên đành để vuột mất. Cái quan trọng là người ta có thấy được cái nguyên tắc khốc liệt của cuộc đời là anh phải lần lượt bỏ lại hết để mà đi tới hay không.
Thằng bé phải buông hết những món đồ chơi của trẻ con để trở thành người lớn. Đó cũng là một hành trình trong đời. Rồi thì tầm nhìn của thiên hạ phải tiếp tục đổi khác để có thể yêu lấy những người không phải thân thuộc huyết thống. Yêu được một người dưng nào đó thì các cô cậu bắt đầu trưởng thành. Giai đoạn này lại cũng chỉ là một chặng đường phải vượt qua. Rồi sẽ có một ngày, yêu hay không chẳng còn là chuyện đáng nói nữa. Vấn đề lúc này chỉ đơn giản là có cần thiết hay không mà thôi. Thích hay không chỉ là chuyện phụ. Bước tới được giai đoạn này, hầu hết đều là những tay có hai màu tóc.
Đó là chuyện đời. Chuyện đạo gẩm kỹ hình như cũng đâu khác gì. Giai đoạn tu chứng nào cũng chỉ là một trạm dừng qua đêm, mai sáng phải tiếp tục đi về phía trước, lên trên cao. Ai nghỉ chân lâu quá, coi chừng cuộc đi đang nảy sinh vấn đề. Đã gọi là con đường thì lúc nào cũng chỉ để đi, không phải để ở. Muốn lên đỉnh núi, phải biết rời khỏi chân núi. Mọi thành tựu trên đường hành đạo đều chỉ là những lữ quán, những bến đò, những sân ga, phi cảng.
Có những cuộc lên đường chất đầy những kỷ niệm như xe bò chở đá. Có những cuộc lên đường nhẹ nhàng như mây trắng đầu non. Hành giả trên đường tu phải là kẻ hành nhân một đời làm những cuộc giã biệt. Nói thiệt, con đường nào cũng có những trở ngại, nhưng ai dám bảo mình chưa từng lưu luyến một nơi chốn nào đó trên những dặm trường đã một lần ghé qua. Rồi thì nói một cách đau lòng nhưng không thể khác hơn, là ai cũng phải cắn răng mà băng mình đi về phía trước, hướng tới những chiều cao mà mình chưa đến được. Nguyên tắc thì nghe đơn giản vậy, nhưng thực tế không một hành giả nào đến đích mà chân không rướm máu, chưa kể một trái tim rách bươm với những gai cỏ tàn độc trên đường.
Không bỏ được cái thích, người ta làm sao có được những thứ cần. Tôi được em, có nghĩa là tôi phải mất bản thân tôi. Càng sống nhiều với những ràng buộc, tôi càng đánh mất những cơ hội tự do. Chợt nhớ một câu danh ngôn dành cho mấy người mê mua sắm: Khi anh mất tiền cho một thứ vô ích nào đó, có nghĩa là anh cũng đang làm mất số tiền để mua một món cần thiết nào đó. Tiền bạc thì trên đời có nhiều người thừa sức hoang phí. Nhưng tuổi đời thì không bao giờ được vậy. Ai cũng chỉ có nhiều lắm là trăm năm cho một kiếp người. Còn ăn, hết nhịn. Vậy mà trớ trêu thay, thời gian lại là thứ bị người ta tiêu hoang thường nhất.
Những dặm đường ngát hương hoa cỏ, những không gian mây trắng trời xanh, những tuyết trắng, nắng vàng, rồi thì áo hồng áo lục, chung tình hay phụ bạc, thề non hẹn biển gì rồi cũng một cuộc biển dâu… Gì cũng phải bỏ lại hết để mà đi. Đi về đâu mới được chứ? Ừ thì một cõi phù vân!
Onceland, mùa đại hạn tuổi 40
Toại Khanh
Theo: NamTong
1620609_10151978934463386_291533067_n
14 tháng 2, khắp mọi nẻo đường lung linh và tràn ngập những đóa hoa hồng, những con gấu bông và cả những món quà như để bày tỏ tình cảm với ấy của mình. Không khí của những trang mạng xã hội còn tưng bừng hơn khi những thành viên trung thành của hội FA (Forever Alone) còn bày ra nhiều âm mưu, kế hoạch, thậm chí còn làm bài vè cầu mưa… Có lẽ nhiều người sẽ khó chịu vì chẳng hiểu lý do gì một ông thầy chùa lại đem cái chuyện tình yêu trai gái ra để bàn luận nơi đây??? Cứ từ từ nhé, bình tĩnh ngồi xuống ăn miếng bánh, uống miếng Ovaltine chào mừng ngày Valentine rồi xem tiếp nhé.
Vâng, tình yêu là một thứ gì đó rất khó hình dung bằng hình tượng và cũng chẳng thể mô tả hay cân đong đo đếm được bằng vật chất thô thiển. Tình yêu là một trạng thái tình cảm và có rất nhiều cung bậc cũng như trạng thái khác nhau. Từ ngàn xưa, đã rất nhiều người định nghĩa: thế nào là tình yêu?
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu! 
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều 
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, 
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu...
(trích Vì sao – Xuân Diệu)
Thậm chí, còn rất nhiều bài thơ chế, đại loại như là:
Đố ai định nghĩa được chữ yêu 
Có khó gì đâu một buổi chiều 
Gặp cô em gái xinh xinh ấy 
Rồi thương rồi nhớ gọi là yêu.
(sưu tầm)
Những ai là fan trung thành của các tiểu thuyết kiếm hiệp thì chắc hẳn sẽ không quên được bài thơ bất hủ của Lý Mạc Sầu trong Thần Điêu Hiệp Lữ được Kim Dung trích từ bài “Mô Ngư Nhi-Nhạn Khâu" của Nguyên Hiếu Vấn:
Vấn thế gian tình thị hà vật 
Trực giáo sinh tử tương hứa 
Thiên nam địa bắc song phi nhạn
Lão sí kỷ hồi hàn thử 
Hoan lạc thú 
Ly biệt khổ 
Tựu trung cánh hữu si nhi nữ 
Quân ưng hữu ngữ 
Diểu vạn lý tằng vân 
Thiên sơn mộ tuyết 
Chích ảnh hướng thùy khứ 
Hoành Phần lộ 
Tịch mịch đương niên tiêu cổ 
Hoang yên y cựu bình Sở 
Chiêu hồn Sở ta hà ta cập 
Sơn quỷ ám đề phong vũ 
Thiên dã đố 
Vị tín dữ 
Oanh nhi yên tử câu hoàng thổ 
Thiên sầu vạn cổ 
Vi lưu đãi tao nhân 
Cuồng ca thống ẩm 
Lai phóng nhạn khâu xứ 
Dịch Việt:
Nấm Mộ Chim Nhạn 
Hỏi thế gian, tình là vật gì 
Mà khiến ta sống chết một lời hứa lụy 
Lữ khách kẻ trời Nam người đất bắc 
Khi đôi cánh mỏi, nhớ những lúc hàn ôn 
Khi hoan lạc vui vầy 
Lúc chia ly đau khổ 
Đều chỉ vì si mê một người con gái 
Lời người nói ra 
Đã xa tít trên tầng mây vạn dặm 
Tuyết chiều trên Thiên Sơn 
Bóng lẻ ấy biết về đâu 
Ngang bước sông Phần 
Nhìn cảnh tịch mịch, nhớ tiếng trống năm xưa 
Khói hoang vẫn như ngày nao bình quân Sở 
Than ôi, khúc chiêu hồn nước Sở nay còn kịp chăng 
Quỷ núi khóc trong mưa gió thê lương 
Trời cũng hờn ghen 
Chẳng thể nào tin được 
Chim én chim oanh, rồi cũng thành đất bụi 
Ngàn mối sầu vạn cổ 
Lưu lại đợi người thơ 
Hát trong điên cuồng, ca trong đau khổ 
Tìm lại nơi đâu nấm mộ chim nhạn năm nào.
(sưu tầm)
Trở lại với vấn đề của bài viết, tình yêu là món mình thích hay là thứ mình cần? Cuộc sống của chúng ta luôn cảm thấy bị phiền não, bị đau khổ thậm chí có nhiều người còn tự kết liễu đời mình  chỉ vì chưa thể phân biệt được vấn đề này. Với mọi vấn đề xung quanh ta, nếu như phân biệt rõ đâu là cái mình cần và đâu là cái mình thích thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nhiều và khi chúng ta đạt đến trình độ đó nghĩa là đời tu của chúng ta đã có một bước tiến triển nhiều.
Chạy theo tình yêu hay nói theo Anh ngữ là “rơi ngã trong tình yêu - fall in love” thì chúng ta đã trở thành tên nô lệ trung thành của vị thần tình yêu nào đó, nói theo Phật Giáo thì đó chính là con ma ngũ dục. Khi chúng ta chạy theo nó thì chắc chắn phải bị khổ đau và cũng chẳng được ích lợi gì cả. Đức Thế Tôn ví dụ chúng sanh đam mê theo ngũ trần dục lạc thì giống như một người nằm mộng nhưng thức dậy rồi thì mộng cũng chỉ là mơ, hoặc là giống như một con chó đói được quăng cho một khúc xương khô, không có thịt gì cả, nó nằm gặm suốt nhưng cũng không thể nào no bụng được… Và đúc kết lại, Bậc Đạo Sư đã dạy rằng: “các dục vui ít, khổ nhiều, nguy hiểm càng nhiều hơn[1]” như là một lời thức tỉnh cho những ai còn ham thích đeo những chiếc kính màu để nhìn cuộc đời, cho những ai chưa nhận thức ra cái nào mình cần và cái nào mình thích.
Thứ mình thích thì đó chỉ là một sở thích cá nhân, như là thích ăn ngon, thích mặc đẹp, thích nghe lời dịu ngọt, thích gần gũi người mình yêu… nhưng những món mình thích thì chưa hẳn có lợi ích cho mình, có thể nói là sẽ mang đến cho mình sự khổ đau nếu như mình không đáp ứng được cái ham thích đó. Tôi thích xài hàng hiệu, tôi không thích xài hàng fake nhưng vì không có tiền nên đành xài tàm để cho bằng chị bằng em với thiên hạ; để rồi một ngày nào đó thiên hạ phát hiện ra thì lại xấu hổ, khổ đau… mình càng chạy theo cái ham thích, càng chạy theo cái tham ái thì chính mình càng đau khổ. Vì sao? Vì rằng:
Appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampiccham na labhati tampi dukkham – oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu bất đắc là khổ[2].
Món mình cần là những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống cá nhân cần phải có như là cơm ăn, áo mặc, nhà cửa để trú ngụ và thuốc men trị bệnh. Vừa đủ với bốn món này đó chính là tinh thần tri túc. Vật thực ăn chỉ để duy trì mạng sống, nuôi thân có sức khỏe; mặc quần áo để không bị lõa lồ, che thân khỏi bị muỗi, mòng, rắn, rít[3]… cái mà mình cần chưa hẳn là cái mình thích nhưng bắt buộc mình phải có, vì đó là nhu cầu cần thiết của mình.
Người đời cứ mãi rong ruổi theo cái ham muốn, cái thị hiếu để đáp ứng cái mình thích chứ đôi khi họ không nhận thức được mình cần cái gì và cái nào chỉ là cái mình thích. Nhận thức được điều đó thì mọi vấn đề sẽ có cách giải quyết dễ dàng. Tình yêu cũng như thế.
Chớ gần gũi người yêu,
Trọn đời xa kẻ ghét.
Yêu không gặp là khổ,
Oán phải gặp cũng đau.
Do vậy chớ yêu ai,
Ái biệt ly là ác;
Những ai không yêu ghét,
Không thể có buộc ràng.[4]
Đức Phật và các bậc Thánh Tăng, các Ngài đã nhận ra điều đó, căn nguyên của khổ chính là tham ái. Vì không nhận ra nó, ta cứ thấy vị ngọt của tình yêu, màu sắc tuyệt vời của dục lạc rồi mình tham đắm vào nó. Nó không có hình dáng nhất định hay là một vật thế xác định, nhưng chính nó đã khiến cho bao tâm hồn bị giằng xé, bị vò nát qua những đêm mất ngủ hay qua những lần không có “gấu” để chung tay vào ngày tình yêu chẳng hạn…
Các vị Phật Độc Giác đã thốt lên những vần kệ khi vừa mới đạt thành Giác ngộ như là một kinh nghiệm của mình cũng như là cái mà mình đã nhận thức rõ.
02. Sống chung chạ ít gì luyến ái?
Xưa ái tình, nay lại sầu tình,
Thấy rồi tội khổ tình si,
Thà như tê giác một mình ra đi…
27. Bả dục lạc ham chi bám níu?
Càng ham vui, càng chịu khổ hình
Lý chân, nhận thức đành rành
Thà như tê giác một mình ra đi…[5]
Nói một cách khách quan, tình yêu cũng có vị ngọt của nó. Vị ngọt của tình yêu là gì? Chỉ có những ai đã từng nếm tình trường rồi mới biết được nó ngọt, đắng, chua, cay ra sao. Nhưng qua những gì mà Thế Tôn cũng như lời vàng của các bậc Thánh đã truyền lưu thì dục lạc hay tình yêu cũng giống như một viên thuốc độc bọc đường không hơn không khác hoặc là một cây nấm độc với một màu sắc rực rỡ, tuyệt đẹp nhưng nếu ai lỡ đụng vô hoặc ăn nhằm thì chắc chắn tự chuốc lấy khổ đau. Đó chính là sự thật.
Với phạm vi nội dung của bài viết thì khó mà nói nhiều dài dòng, đọc mỏi mắt, đôi khi không biết có ai đọc hay không, hôm nay, nhân dịp ngày Valentine – lễ tình nhân, mọi người rần rần khắp nơi, các page mạng cũng xôn xao phe thì happy, còn phe thì ngồi cầu mưa, cầu cúp điện… xem như là một người độc thân suốt mọi hành trình, chúng tôi xin chia sẻ bài viết này đến mọi người. Người FA thì đừng lấy mà đau buồn mà có thể tự an ủi mình vậy. Còn người đã có đối phương thì thôi ráng sống thật hạnh phúc và hãy ráng tập nhận thức cái gì mình thích và cái gì mình cần nhé.
cayvalabode
Xin mượn bài thơ này để làm lời kết cho bài viết:
Nhặt hai chiếc lá bồ đề
Một trao cho nhỏ, một về làm tin
Sa môn một buổi thất tình
Cắt hai đuôi lá ra hình đôi tim
Một mai tình có nổi chìm
Đuôi xưa ghép lại ra tim bồ đề
Cho bờ giác nối bến mê
Cho tình trần một ngõ về vô sanh.
(trích Tập thơ Nụ cười Tuyết Lãnh - Toại Khanh)
ovaltine
Cũng đã sắp tàn ngày valentine, thôi cũng vừa phải lẽ đề ngồi lại uống một tách Ovaltine cho qua ngày, chữa bệnh đói bụng vậy.
Bangkok, 14/02/2014.
Tỳ-khưu Định Phúc


[1] Trung Bộ Kinh, Kinh Ví Dụ Con Rắn.
[2] Tương Ưng Bộ Kinh 5, Tương Ưng Sự Thật, Phẩm Chuyển Pháp Luân, Kinh Như Lai Thuyết (S.v.420)
[3] Trung Bộ Kinh, Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc.
[4] Pháp Cú Kinh 210-211.
[5] Tiểu Bô Kinh, Kinh Tập, Kinh Tê Giác (Cố HT Pháp Minh dịch).
xuan
Mừng Xuân Giáp Ngọ 2014 đang trở về với mọi người dân Việt Nam chúng ta trên khắp năm châu.
Nhân dịp năm mới, xin kính gửi lời chúc mừng năm mới đến chư tôn Đại Đức Tăng và quý Tu nữ  một năm mới an khang thịnh vượng, vạn sự như ý, sức khỏe dồi dào và sớm mau thành tựu mọi ước nguyện.
Kính chúc quý Phật tử gần xa một năm mới an lạc, thuận duyên trong cuộc sống, sức khỏe dồi dào, gia đình thịnh vượng và luôn tiến hóa trong Phật Pháp.
Mong thay!
Tỳ-khưu Định Phúc

5 (8)5 (10)2048 (3)

Chùa Kyaikh-ti-yo (đọc là Chai-ti-dô) được xây trên đỉnh của dãy đồi Pau-laung. Chùa cách huyện Kyaith-to chỉ vài dặm.
Mặc dù đường lên chùa khó khăn nhưng hàng năm khách hành hương ngàn ngàn người vẫn đến chiêm bái. Tên chùa Kyaikh-ti-yo có nghĩa là ‘chùa được vị đạo sĩ mang trên đầu’. Truyền thuyết giải thích tên gọi này vốn có từ lâu đời.
Thuở xưa, trong khu rừng rậm của vương quốc Suvannabhumi (nay là Thaton) có 2 anh em đạo sĩ nọ. Họ vốn là 2 vị hoàng tử nhưng họ đã từ bỏ cuộc sống huy hoàng, cung vàng điện ngọc, của cải sang giàu của trần thế để tu hành khổ hạnh ở nơi rừng thẳm ấy. Người anh tên là Teikthadharma, người em là Thiharaza.
Một hôm, khi hai đạo sĩ đi tìm củ, quả để ăn thì họ thấy 2 quả trứng rất to nằm trên mặt đất. Người anh bảo ‘Trứng này to lớn lạ thường, chắc không phải của loài tầm thường. Chúng ta hãy giữ lại xem sao.’ Người em đồng ý. Mỗi người mang một quả đem về chỗ trú ngụ của mình trong rừng.
Thời gian sau, họ thật ngạc nhiên thấy trứng nở ra 2 hài nhi. Họ hết lòng nuôi dưỡng, chăm sóc 2 trẻ. Nhờ tình thương yêu lo lắng của họ mà 2 bé ấy chóng lớn thành 2 thanh niên khôi ngô tuấn tú. Hai đạo sĩ cùng con trai nuôi của mình thường đi lại trong khu rừng rậm, hai cậu được huấn luyện cách sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau cũng như lối sống nơi rừng xanh.
Mười năm cứ thế trôi qua, rồi bỗng nhiên đứa con nuôi của người em qua đời. Nỗi đau buồn mất mác đó thật sự là biến cố bi thương cho hai anh em đạo sĩ và người con nuôi còn lại. Nhưng hoạ vô đơn chí! Chẳng bao lâu sau họ nhận được tin phụ hoàng tức Vua xứ Suvannabhumi băng hà. Các triều thần vội đến van nài người anh trở lại kinh thành để lên ngôi kế vị cha mình. Đạo sĩ Teikthadharma đã khước từ lời đề nghị  mặc dầu các triều thần có thưa rằng một nước mà không vua như tàu không bánh lái. Vị tể tướng thốt lên “Ôi! thần dân của Ngài sẽ ra sao nếu Ngài không quay về chăn dân trị nước?” Thế nhưng vị đạo sĩ đã quyết, ông nói “Hỡi các triều thần trung thành và sáng suốt! Ta không muốn rời chỗ trú ngụ trong khu rừng này vì ta đã rời bỏ thế gian cùng các thú vui và cám dỗ. Tuy nhiên nếu các vị đồng ý thì ta sẽ trao con trai nuôi của ta về cai trị dân chúng.” Thấy vị đạo sĩ cương quyết, biết không thay đổi được, các triều thần bèn tuân theo đề nghị này. Thế là người con nuôi được đưa về cung và lên ngôi vua, lấy hiệu là Teikthadharma Thiriraza, theo tên của cha nuôi và chú nuôi.
Nói về con trai nuôi của người em, sau khi qua đời chẳng bao lâu cậu được tái sanh làm con trai của một nhà giàu tại nước Mithila. Cậu lớn lên thành một thanh niên ngoan hiền và hiếu thảo. Một hôm, cậu đến đảnh lễ Đức Phật và cầu xin Ngài cho cậu xuất gia làm tỳ-khưu. Sau nhiều năm hành thiền và kính tin Phật Pháp, cậu trở đắc Thánh quả A-la-hán, mọi người gọi là Đại Đức Gavanpati.
Một lần nọ, khi đang hành thiền, tâm Đại Đức nhớ lại kiếp trước ở trong rừng xứ Suvannabhumi, khi nghĩ về cha nuôi và bác nuôi, lòng Đại Đức tràn ngập lòng biết ơn trước công lao nuôi dưỡng cao dày thuở nào, Đại Đức quyết định lên đường viếng thăm họ.
Khi đến chỗ của hai vị đạo sĩ, Đại Đức bảo họ rằng Đại Đức là con trai nuôi trước đây của họ, đứa con mà lúc lên mười tuổi đã chết và được tái sinh. Khi nghe thấy thế, hai đạo sĩ vui mừng khôn tả, họ càng hoan hỷ hơn khi được tin Bồ-tát Gotama đã Giác Ngộ thành Phật và đang thuyết Pháp tại Ấn Độ. Họ khát khao chờ đợi được diện kiến đảnh lễ Ngài và được lắng nghe lời dạy thiêng liêng cao quý của Ngài biết bao! Vị A-la-hán này có thể nào cầu xin Đức Thế Tôn quang lâm đến Suvannabhumi được không? Đại Đức Gavanpati cung kính chuyển lời khẩn cầu này và Đức Phật đã chấp thuận. Ngài cùng chư Tăng khởi hành sang Suvannabhumi.
Họ chuẩn bị chu đáo mọi thứ để cung đón Đức Phật. Khi Ngài đến nơi, Ngài được hai đạo sĩ, nhà Vua tức con trai nuôi của họ và vị đạo sĩ Kelathaya ở khu rừng bên cạnh, long trọng nghinh tiếp. Đức Thế Tôn thuyết nhiều bài Pháp về từ bi và trí tuệ cho họ nghe. Lúc Ngài chuẩn bị trở về Ấn Độ , họ cầu xin Ngài ban cho họ một đặc ân có được ít xá lợi để họ phụng thờ những bảo vật Phật ban trong chuyến viếng thăm này. Ngài từ bi chấp thuận và trao cho mỗi đạo sĩ một sợi xá lợi tóc cuộn tròn. Đạo sĩ Thiharaza và Kelathaya đặt xá lợi Phật trong một tráp nhỏ và gìn giữ trong ngôi chùa họ kiến tạo. Đạo sĩ Teikthadharma thì cất xá lợi trong tóc của mình, thường xuyên đảnh lễ bảo vật của Đấng Giác Ngộ.
Ít năm sau, hai đạo sĩ Thiharaza va Kelathaya từ trần. Đạo sĩ Teikthadharma linh cảm mạng sống của mình cũng sắp hết. Vua Trời Đế Thích bồn chồn không yên sợ xá lợi quý báu của Đức Phật sẽ bị thất lạc. Vua Trời bèn xuống trần, hiện ra trước Vua xứ Suvannabhumi bảo rằng ‘Thưa đức vua, cha của người tức đạo sĩ Teikthadharma sắp lâm chung, tôi cảm thấy bất an lo ngôi xá lợi mà Đức Phật ban rồi đây không biết ra sao. Nếu chúng ta có thể thuyết phục vị đạo sĩ tìm cách nào gìn giữ ngôi xá lợi được an toàn trước khi ông qua đời thì thật là tốt.’
Nghe thế, Vua Suvannabhumi bèn cùng Vua Trời Đế Thích đến khu rừng gặp Teikthadharma. Thấy họ, vị đạo sĩ ngạc nhiên hỏi nguyên do. Vua Trời Đế Thích đáp rằng ‘Vì đạo sĩ không còn sống bao lâu nữa, chúng tôi đến đây cầu xin ông trao ngôi xá lợi quý giá mà Đấng Giác Ngộ đã ban cho ông. Chúng tôi sẽ xây một ngôi chùa bên trên xá lợi, đây sẽ là nơi mọi người đến chiêm bái khi ông không còn nữa.’ Ban đầu vị đạo sĩ tỏ ra miễn cưỡng, nhưng sau một lúc suy nghĩ, ông đồng ý trao xá lợi với điều kiện phải tìm một hòn đá trông giống như đầu của ông. Xá lợi sẽ được cất trong hốc nhỏ của tảng đá, và phía trên đó hãy xây một ngôi chùa.
Vua Trời Đế Thích rất hoan hỷ khi nghe điều kiện này, Vua Trời lập tức ra bờ biển và tìm thấy một hòn đá khổng lồ rất giống đầu của vị đạo sĩ, rồi cùng nhiều người đem hòn đá này lên đỉnh đồi cao, đặt hòn đá theo vị trí mà Vua Trời có thể ngồi giữa mặt đáy của hòn đá và đỉnh đồi. Sau đó, Vua Trời đi gọi vị đạo sĩ và nhà vua đến xem.
Teikthadharma vô cùng hài lòng, vừa ý trước cách sắp xếp này đến nỗi ông bảo Vua Trời Đế Thích tạo một lỗ nhỏ trên hòn đá để ông đặt xá lợi vào. Sau khi việc này hoàn tất, vị đạo sĩ cẩn trọng lấy xá lợi từ đầu ông xuống, đảnh lễ, và trang trọng đặt vào nơi cất giữ này. Bên trên xá lợi, tại đỉnh của hòn đá, họ xây dựng một ngôi chùa mới. Khi mọi việc đâu vào đấy, Vua Trời Đế Thích trở về cung trời của mình. Còn vị đạo sĩ thì ngồi bên dưới ngôi già lam nơi an vị xá lợi thiêng của Đức Phật mà bình thản ra đi.
Từ lúc chùa được trùng tu lại, khoảng trống giữa mặt đáy hòn đá và đỉnh đồi không còn nữa. Tuy nhiên, hòn đá thiêng khổng lồ này vẫn có thể chuyển động tới lui nhưng hoàn toàn thăng bằng, vững vàng!
(Theo www.seasite.niu.edu, Liên Thuỷ dịch)
hoa-dao-13

Ngày xưa, ở phiá đông núi Sóc Sơn, Bắc Việt, có một cây đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào xum xuê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng.
Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào là bỏ chạy xa bay.
Ðến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái.
Ðể ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành đào về cắm trong lọ,nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.
Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ, Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này, không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hoà hợp được trang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.
Theo: http://phamhuuhoan.blogspot.com/

20140121-105725.jpg

Ngày xưa có một cô gái tên Mai con một người thợ săn vốn rất gan dạ và can đảm. Năm lên mười bốn, cô gái đã được cha đào luyện trở thành một nữ hiệp sĩ vô cùng tài giỏi và tinh thông võ thuật.
Lúc ấy có một con yêu tinh đến quấy phá một làng nọ, dân làng treo giải ai giết được yêu tinh sẽ được thưởng trọng hậu. Thế là hai cha con lên đường giết yêu tinh. Sau khi giết được yêu tinh trở về, danh tiếng của hai cha con vang dội và truyền rao khắp nơi. Vài năm sau người cha lâm bệnh nặng và sức khỏe ngày một yếu đi. Còn cô con gái thì đã bước qua tuổi mười tám, sức khỏe càng tăng lên gấp bội, võ thuật càng ngày càng tinh thông.
Năm ấy yêu tinh rắn lại xuất hiện ở một vùng nọ và dân làng đến khẩn khoàn hai cha con đi giết yêu tinh. Trước khi con gái lên đường, người mẹ may cho cô một bộ đồ gấm màu vàng rất đẹp và cô gái hứa ngày trở về sẽ mặc bộ đồ vàng ấy cho mẹ nhìn thấy cô từ xa. Sau đó hai cha con trèo non lội suối tìm cho ra yêu tinh để tiêu diệt nó. Người cha vì sức yếu nên không phụ giúp được gì để cô con gái một mình chống chọi với yêu tinh. Nhưng cuối cùng cô gái cũng giết được nó. Nhưng rủi thay, trước khi chết, con yêu rắn đã vùng dậy dùng đuôi quấn và xiết chết cô gái.
Cảm thương trước tấm lòng hiệp nghĩa của cô gái cũng như sự khóc lóc van nài của người mẹ tội nghiệp nên ông Táo trong nhà đã khẩn khoản xin Ngọc Hoàng cho cô gái được sống lại và trở về với gia đình trong chín ngày.
Thế là từ đó, cô gái được trở về nhà trong hình hài nguyên vẹn với gia đình trong chín ngày (từ 28 tháng Chạp cho đến mồng 6 Tết thì biến mất).
Về sau khi cha mẹ và người thân của cô gái mất hết, cô gái không trở về nhà nữa mà hóa thành một cây hoa mọc bên ngôi miếu mà người dân đã lập nên để cúng bái cô. Thấy cây hoa lạ mọc lên bên miếu và cứ trổ hoa vàng suốt chín ngày Tết nên dân làng lấy tên cô gái đặt cho cây hoa ấy là cây hoa mai và chiết nhánh mang về trồng khắp nơi để trừ tà đuổi quỷ, mang lại may mắn cho gia đình mỗi độ xuân về, năm hết tết đến.
Mặc dù chỉ là câu chuyện cổ tích dân gian, nhưng một phần nào đó đã nói lên ước mơ và hoài bão thiết tha của người Việt xưa về một cuộc sống an lành, ấm no, hạnh phúc. Đó là những mơ ước, những hoài bão mà con người trong bất cứ thời đại nào cũng mong mỏi như vậy. Tuy bản thân cây đào hay cây mai chỉ là thực vật và trổ hoa theo mùa chứ không có gì linh thiêng cả, nhưng nếu đã là một di sản tinh thần của người Việt thì cũng nên được bảo tồn và giữ gìn cho các thế hệ sau vì đó là những nét văn hóa truyền thống đẹp và quý báu. Nó làm nên giá trị văn hóa Tết cổ truyền của dân tộc.
Theo: http://phamhuuhoan.blogspot.com/
Bài đăng cũ hơn Trang chủ


  • BÀI MỚI NHẤT
  • NHẬN XÉT MỚI NHẤT

ĐƯỢC QUAN TÂM

  • Ngày ấy tôi ra đi (Định Phúc)
  • Happy Birthday 25th
  • TRƯỞNG LÃO BAKKULA - Đệ nhất hạnh vô bệnh (Định Phúc)
  • Lễ An vị kim thân Đức Phật và Dâng Y Kathina tại Chùa Thanh Phước (Bình Long - Bình Phước)
  • ĐỜI KHÔNG CHA (Quach Khang Huy)

Thống Kê

LIÊN KẾT WEBSITE

  • người áo lam
    KHAI BÚT ĐẦU XUÂN CANH TÝ - Trong 12 con giáp thì có lẽ con Chuột là loài vật thân thuộc nhất mà mỗi chúng ta gặp nhiều nhất. Chuột cũng được nhắc rất nhiều đến trong ca dao tục ngữ...
    6 năm trước
  • Chùa Ngưỡng Quan
    -
  • Chánh Đạt Online
    -

Con Người Tỉnh Thức


http://www.nguongquan.com/


2011 Định Phúc. All rights reserved.
Mọi thắc mắc thư từ bài vở xin liên lạc samadhipunno@yahoo.com
Designed by Thích Trí Giải | Based on SimplexDesign
Thích Trí Giải