• Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên Lạc
  • Đăng nhập
  • Đọc tin RSS
  • Trang Chủ
  • phật pháp
  • kinh tạng
  • luật tạng
  • hình ảnh
  • thơ văn
  • nhật ký
  • sưu tầm
  • truyện ngắn
Bạn Đang Xem : Trang Chủ »
Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ văn. Hiển thị tất cả bài đăng
 IMG_4838
Suy cho cùng, kiếp người hay cuộc tu chỉ là những lần ghé lại đâu đó. Nói ở nghĩa nào thì người ta không ai có thể chung thân với một thứ gì miên viễn. Mình không bỏ nó thì nó cũng xa mình. Ta có thể mất nó vì nhàm chán hay không còn cơ hội nắm níu. Và cái mà ta yêu nhất cũng có nhiều kiểu bỏ ta ở lại mà đi. Hồi xưa bắt chước theo kinh mà nói gì cũng là bè cỏ qua sông.. Giờ có thêm tí tuổi, nhiều lúc nằm ngẫm nghĩ một mình thấy câu nói ví von đó hay quá chừng, hay đáo để.
Kinh chép ngày xưa có ông đạo sĩ Sumedha thừa sức chứng quả La-hán, nhưng ông không cam tâm giải thoát gọn nhẹ, lặng lẽ và an nhàn như thế. Ông chỉ muốn thành một vị đại giác y hệt Thế Tôn Nhiên Đăng để mà gồng gánh thiên hạ. Phật nhìn kỹ căn cơ của ông không phải loại xoàng, bèn ừ cho một tiếng. Ông vui quá, trở thành bất thối bồ-tát, đời đời thủy chung với đại nguyện của mình. Kinh nói Thế Tôn Cồ Đàm chính là kiếp cuối cùng của ông đạo sĩ Sumedha ngày trước. Khổ tu chừng đó thời gian, thành Phật rồi chỉ sống thêm 45 năm rồi thì bỏ đời mà đi. Trước sau thọ lượng chỉ vừa vặn 80 năm ngắn ngủi. Với Ngài vậy cũng là quá nhiều. Bởi nào ai biết Ngài từng có ý viên tịch từ năm 35 tuổi, ngay sau khi thành Phật. Với những người nặng tình với Phật thì thời gian 80 năm đó chẳng bỏ bèn gì. Đến ngài Ānanda còn thấy Phật đi quá sớm, tôn giả đã khóc thầy bằng nước mắt của một bậc thánh. Thôi thì gì cũng một áng phù vân, khác nhau chăng là mây lành ngũ sắc hay mây xám báo giông. Khoảng ba tháng sau ngày Phật tịch, hiểu ra chuyện đó, tôn giả Ānanda không buồn nữa. Rồi thì đến phiên ngài cũng theo Phật mà đi biệt.
Đó là chuyện của thánh hiền. Còn với phàm tâm thì sao chứ? Lại cũng vẫn là chuyện được rồi mất. Mất có hai cách: Không muốn giữ nữa nên buông hay bàn tay quá yếu không đủ sức nắm níu nên đành để vuột mất. Cái quan trọng là người ta có thấy được cái nguyên tắc khốc liệt của cuộc đời là anh phải lần lượt bỏ lại hết để mà đi tới hay không.
Thằng bé phải buông hết những món đồ chơi của trẻ con để trở thành người lớn. Đó cũng là một hành trình trong đời. Rồi thì tầm nhìn của thiên hạ phải tiếp tục đổi khác để có thể yêu lấy những người không phải thân thuộc huyết thống. Yêu được một người dưng nào đó thì các cô cậu bắt đầu trưởng thành. Giai đoạn này lại cũng chỉ là một chặng đường phải vượt qua. Rồi sẽ có một ngày, yêu hay không chẳng còn là chuyện đáng nói nữa. Vấn đề lúc này chỉ đơn giản là có cần thiết hay không mà thôi. Thích hay không chỉ là chuyện phụ. Bước tới được giai đoạn này, hầu hết đều là những tay có hai màu tóc.
Đó là chuyện đời. Chuyện đạo gẩm kỹ hình như cũng đâu khác gì. Giai đoạn tu chứng nào cũng chỉ là một trạm dừng qua đêm, mai sáng phải tiếp tục đi về phía trước, lên trên cao. Ai nghỉ chân lâu quá, coi chừng cuộc đi đang nảy sinh vấn đề. Đã gọi là con đường thì lúc nào cũng chỉ để đi, không phải để ở. Muốn lên đỉnh núi, phải biết rời khỏi chân núi. Mọi thành tựu trên đường hành đạo đều chỉ là những lữ quán, những bến đò, những sân ga, phi cảng.
Có những cuộc lên đường chất đầy những kỷ niệm như xe bò chở đá. Có những cuộc lên đường nhẹ nhàng như mây trắng đầu non. Hành giả trên đường tu phải là kẻ hành nhân một đời làm những cuộc giã biệt. Nói thiệt, con đường nào cũng có những trở ngại, nhưng ai dám bảo mình chưa từng lưu luyến một nơi chốn nào đó trên những dặm trường đã một lần ghé qua. Rồi thì nói một cách đau lòng nhưng không thể khác hơn, là ai cũng phải cắn răng mà băng mình đi về phía trước, hướng tới những chiều cao mà mình chưa đến được. Nguyên tắc thì nghe đơn giản vậy, nhưng thực tế không một hành giả nào đến đích mà chân không rướm máu, chưa kể một trái tim rách bươm với những gai cỏ tàn độc trên đường.
Không bỏ được cái thích, người ta làm sao có được những thứ cần. Tôi được em, có nghĩa là tôi phải mất bản thân tôi. Càng sống nhiều với những ràng buộc, tôi càng đánh mất những cơ hội tự do. Chợt nhớ một câu danh ngôn dành cho mấy người mê mua sắm: Khi anh mất tiền cho một thứ vô ích nào đó, có nghĩa là anh cũng đang làm mất số tiền để mua một món cần thiết nào đó. Tiền bạc thì trên đời có nhiều người thừa sức hoang phí. Nhưng tuổi đời thì không bao giờ được vậy. Ai cũng chỉ có nhiều lắm là trăm năm cho một kiếp người. Còn ăn, hết nhịn. Vậy mà trớ trêu thay, thời gian lại là thứ bị người ta tiêu hoang thường nhất.
Những dặm đường ngát hương hoa cỏ, những không gian mây trắng trời xanh, những tuyết trắng, nắng vàng, rồi thì áo hồng áo lục, chung tình hay phụ bạc, thề non hẹn biển gì rồi cũng một cuộc biển dâu… Gì cũng phải bỏ lại hết để mà đi. Đi về đâu mới được chứ? Ừ thì một cõi phù vân!
Onceland, mùa đại hạn tuổi 40
Toại Khanh
Theo: NamTong
hoa-dao-13

Ngày xưa, ở phiá đông núi Sóc Sơn, Bắc Việt, có một cây đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào xum xuê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng.
Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào là bỏ chạy xa bay.
Ðến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái.
Ðể ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành đào về cắm trong lọ,nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.
Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ, Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này, không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hoà hợp được trang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.
Theo: http://phamhuuhoan.blogspot.com/

20140121-105725.jpg

Ngày xưa có một cô gái tên Mai con một người thợ săn vốn rất gan dạ và can đảm. Năm lên mười bốn, cô gái đã được cha đào luyện trở thành một nữ hiệp sĩ vô cùng tài giỏi và tinh thông võ thuật.
Lúc ấy có một con yêu tinh đến quấy phá một làng nọ, dân làng treo giải ai giết được yêu tinh sẽ được thưởng trọng hậu. Thế là hai cha con lên đường giết yêu tinh. Sau khi giết được yêu tinh trở về, danh tiếng của hai cha con vang dội và truyền rao khắp nơi. Vài năm sau người cha lâm bệnh nặng và sức khỏe ngày một yếu đi. Còn cô con gái thì đã bước qua tuổi mười tám, sức khỏe càng tăng lên gấp bội, võ thuật càng ngày càng tinh thông.
Năm ấy yêu tinh rắn lại xuất hiện ở một vùng nọ và dân làng đến khẩn khoàn hai cha con đi giết yêu tinh. Trước khi con gái lên đường, người mẹ may cho cô một bộ đồ gấm màu vàng rất đẹp và cô gái hứa ngày trở về sẽ mặc bộ đồ vàng ấy cho mẹ nhìn thấy cô từ xa. Sau đó hai cha con trèo non lội suối tìm cho ra yêu tinh để tiêu diệt nó. Người cha vì sức yếu nên không phụ giúp được gì để cô con gái một mình chống chọi với yêu tinh. Nhưng cuối cùng cô gái cũng giết được nó. Nhưng rủi thay, trước khi chết, con yêu rắn đã vùng dậy dùng đuôi quấn và xiết chết cô gái.
Cảm thương trước tấm lòng hiệp nghĩa của cô gái cũng như sự khóc lóc van nài của người mẹ tội nghiệp nên ông Táo trong nhà đã khẩn khoản xin Ngọc Hoàng cho cô gái được sống lại và trở về với gia đình trong chín ngày.
Thế là từ đó, cô gái được trở về nhà trong hình hài nguyên vẹn với gia đình trong chín ngày (từ 28 tháng Chạp cho đến mồng 6 Tết thì biến mất).
Về sau khi cha mẹ và người thân của cô gái mất hết, cô gái không trở về nhà nữa mà hóa thành một cây hoa mọc bên ngôi miếu mà người dân đã lập nên để cúng bái cô. Thấy cây hoa lạ mọc lên bên miếu và cứ trổ hoa vàng suốt chín ngày Tết nên dân làng lấy tên cô gái đặt cho cây hoa ấy là cây hoa mai và chiết nhánh mang về trồng khắp nơi để trừ tà đuổi quỷ, mang lại may mắn cho gia đình mỗi độ xuân về, năm hết tết đến.
Mặc dù chỉ là câu chuyện cổ tích dân gian, nhưng một phần nào đó đã nói lên ước mơ và hoài bão thiết tha của người Việt xưa về một cuộc sống an lành, ấm no, hạnh phúc. Đó là những mơ ước, những hoài bão mà con người trong bất cứ thời đại nào cũng mong mỏi như vậy. Tuy bản thân cây đào hay cây mai chỉ là thực vật và trổ hoa theo mùa chứ không có gì linh thiêng cả, nhưng nếu đã là một di sản tinh thần của người Việt thì cũng nên được bảo tồn và giữ gìn cho các thế hệ sau vì đó là những nét văn hóa truyền thống đẹp và quý báu. Nó làm nên giá trị văn hóa Tết cổ truyền của dân tộc.
Theo: http://phamhuuhoan.blogspot.com/
tet-giap-ngo-12014

Chẳng biết tết này em ở đâu
Đầu năm, viễn xứ nhớ thương nhau
Hỏi thăm đây đó...thì ra thế
Em đã đoạn trường một kiếp dâu

Ngó lại, ừ ta có khá chi
Mười năm luân lạc kiếp chim di
Tương lai đen nghịt, bàn tay trắng
Nhiều lúc thẹn lòng áo Đại Bi

Bắt chước Huyền Trang về Tây Trúc
Rồi học Đạt Ma ghé đất Tàu
Biền biệt tuổi đời mơ với thực
Con thuyền sinh tử biết về đâu

Từ độ xa quê về đất lạ
Tết đến là thêm một dịp buồn
Thầy, mẹ xuân này đều mất cả
Cúng lễ giao thừa...chén nước suông

thôi lại hẹn nhau xuân nào đấy
Tóc bạc trùng phùng trên đất Xiêm
Em nấu giùm nồi canh rau đắng
Mình uống cùng nhau những nỗi niềm

Toại Khanh xuân 2014


Có thấy gì đâu, ai bảo xuân
Đầu năm con ngọ đã trần thân
Xứ người thiếu áo, ngày thêm lạnh
Đất khách vớ mòn, đêm cóng chân
Bè bạn bỗng dưng vô âm tín
Người thân gọi mãi cứ làm thinh
Nửa đêm hốt tuyết ngồi đun nước
Uống chén trà khuya thấm chữ tình
Tình chi rồi cũng như nước ốc
Ngẫm lại thì ai cũng một mình
Về đâu, đâu cũng là đất lạ
Ai bạn, ai thầy, ai đệ huynh
Nhấc ấm khỏi lò, nghe chi ngộ
Mở nắp, soi đèn, một chiếc đinh !
Toai Khanh, Schwarzwald 10/1/2014

Cuối năm là khoảnh khắc dùng để ôn lại, dùng để nhìn lại những chặng đường đi qua trong một năm. Đáng lẽ TN phải viết gì đấy trước giao thừa nhưng vì sức khỏe không cho phép nên bây giờ mới có thể thực hiện được. Trước khi viết những điều này, bản thân TN phải ngồi lại để nhìn lại tâm mình để tránh việc quá cảm tính trong lúc viết hay đi xa với mục đích muốn gửi gắm những lời khuyên lúc ban đầu. Mục đích của bài viết này chỉ nhằm hai mục đích đó là: “phản ánh và khuyến khích”

Thời đại công nghệ thông tin, nên chỉ vài cái click chuột là chúng ta có thể lấy thông tin từ nơi khác và chuyển tải thông tin đến nơi khác. Nên hàng loạt bài viết về tôn giáo, thiền định, v.v… cũng trở nên phong phú và cái giá trị của những bài viết này cũng đủ dạng.

Đối với vai trò của một vị tu sĩ trẻ, trẻ ở đây có hai nghĩa trẻ về tuổi lẫn trẻ về năm tu thì việc cần phải làm đó là học để có kiến thức, có kiến thức mới thẩm xét được sự đúng sai trong oai nghi, phẩm hạnh, v.v… đặc biệt là cái “hiểu đúng”? (không dám dùng từ tri kiến gì cho nó cao xa), hiểu đúng ở đây chỉ đơn thuần là những gì mà mình đang cho là tu tập nó có đúng với Pháp và Luật mà Đức Phật đã dạy hay không? Nếu nó đúng, thì nó đúng như thế nào, trong hoàn cảnh nào, đối với đối tượng như thế nào mà Đức Phật lại hướng dẫn như thế? V.v…Nói gì thì nói chứ e ngại nhất là cái kiểu học chưa thông mà bị lầm lẫn cái “sở kiến, sở chứng, sở đắc” chi chi đấy rồi đem rao giảng cho thiên hạ thì TỘI CHO HỌ QUÁ!

Nói thêm về vấn đề HỌC, chúng tôi nhớ khi mới vào chùa cho đến lúc được tập tành ngồi lên Pháp tọa rồi đấy, cái công việc đáng sợ nhất đó là BỊ BẮT THUYẾT PHÁP vào mỗi nửa tháng nên thường trốn tránh hoặc giả vờ đùn đẩy. Đối với thế hệ Tăng sinh trẻ cái công việc mà chúng tôi thích thú làm nhất chỉ đơn thuần là “Ăn, ngủ, chơi và học”; tuổi trẻ chỉ có việc học là niềm vui lớn nhất. Nhiều người cứ bảo: “Ôi! Mấy ông sư nhỏ chỉ lo học hành chẳng lo tu gì cả!” Chữ TU nó không nằm trọn vẹn trong một hành động duy nhất là chân xếp bằng, mắt lim dim; mà chữ TU bao gồm nhiều oai nghi và trong công việc như ăn như thế nào? đi như thế nào? nói chuyện như thế nào? v.v… dễ gì có được mấy ai biết mấy ông sư nhỏ phải học và phải tu mấy cái này.

Trở lại vấn đề của mấy vị “trẻ trong đời sống phạm hạnh”(không hẳn là trẻ tuổi), hầu như mấy vị này thường thích chọn con đường thiền định. Như đã nói từ đầu, mục đích của bài viết là phản ánh và khuyến khích nên không có sự đả kích trong đây. Mặc dù, Đức Phật có ban hành Gantharadhura – trách nhiệm trong việc học và Vipassanādhura – trách nhiệm trong việc thực hành Vipassanā; nhưng điều đấy không có nghĩa là vị nào hành pháp thì được phép không cần học để “hiểu đúng”. Cái thiếu kiến thức hoặc thiếu sự “hiểu đúng” nó rất là tai hại, ví dụ như thế này: Ngày trước chúng tôi có ở một cái trung tâm thiền được nhiều người xưng tụng là nơi thanh tịnh về giới luật. Ở một thời gian, thì thấy có mấy vị kia bàn cãi một cách sôi nổi lắm, nghe ra thì cũng mấy điều luật không quan trọng lắm nhưng mấy vị làm kiểu như là phạm phải điều ấy là mất đi cả phẩm hạnh Tỳ khưu vậy. Khổ nỗi cái hệ quả của việc thiếu kiến thức nó không dừng ở mức đó, những vị đấy lấy việc Thanh Tịnh Giới của mình làm niềm tự hào rồi THỂ HIỆN bằng nhiều hình thức rất là ngộ nghĩnh. Không biết mấy vị ấy có bao giờ hình dung cái hình ảnh của “một người vào rừng tìm lõi cây, chặt vỏ ngoài cho là lõi cây rồi đem về” – đối với những vị thỏa mãn và hài lòng với sự thành tựu về giới của mình thì cũng như người lấy được vỏ ngoài mà nghĩ là lõi cây. Điều tai hại của việc thiếu kiến thức đó là lầm tưởng PHƯƠNG TIỆN LÀ CỨU CÁNH.

Đối với thời đại thông tin tràn lan như hiện nay, thì những người tại gia cư sĩ cần chuẩn bị cho mình một khả năng giống như một người thợ kim hoàn thử vàng phải biết đốt nóng, chà xát, v.v… để thử vàng; cần phải chuẩn bị cho mình cái lý tính để đánh giá, học hỏi nhìn nhận vấn đề thay vì cái cảm tính. Có một lần, đọc một cái bài nọ, chúng tôi thấy người viết thiếu kiến thức trong việc nhận định và đưa ra nhiều cái sở tri, sở kiến, xem tiếp những comment phía dưới thì thấy toàn là “ôi! Sư minh triết quá!, sư chí lý quá!”, thật tình là đọc mãi mà không thấy minh triết và chí lý điểm nào. Đây chỉ là một trường hợp điển hình thôi nhưng nó thể hiện lên cái tính “dễ hài lòng, dễ chấp nhận những gì được nêu lên” nói ngắn gọn và xúc tích hơn là “A DUA”.

Điểm tiếp theo đáng lưu ý là về vấn đề nương nhờ và tu học theo một vị Tăng nào đấy, sau đó, hình thành lên cái mà chúng tôi gọi là THẦN TƯỢNG HÓA CÁ THỂ, nhưng có ai nhớ rằng quy y Tăng (Saṅghaṃ saraṇam gacchāmi) là nương nhờ Tăng chúng, chứ không phải nương nhờ 1 ông sư nào đấy. Nhiều chuyện oái ăm cũng từ cái nương nhờ riêng biệt một cá thể mà ra như ông sư đó làm chuyện quấy hay hoàn tục rồi người còn lại ôm HẬN, mất niềm tin, v.v… chuyện cứ tưởng như đùa mà có thật. THẦN TƯỢNG HÓA CÁ THỂ là một dạng bệnh chung mà nhiều người mắc phải nó không chỉ dừng ở mức độ như trên, đôi khi có những cuộc khẩu chiến đại loại như “Thầy tui thiền sư ABC dạy thế này….”

Nói mãi chắc cũng không hết những chuyện đại loại thế này. Thiếu kiến thức và hiểu chưa đúng đâm ra nhiều thứ khá là tai hại. Do đấy mà việc học rất là cần thiết cho tất cả mọi người, chúng tôi còn nhớ mãi cái hình ảnh của một vị lão tăng tuổi hơn bảy mươi người mảnh khảnh, lọm khọm hằng ngày đi bách bộ quanh rừng thiền nhưng miệng vẫn tụng niệm những câu Phật ngôn… Những gì được phản ánh trái chiều bên trên vốn không phải quy chụp tất cả mọi người, mà là hình ảnh mà chúng tôi hay mọi người thường gặp đâu đó hoặc đã gặp mà không ai dám thổ lộ hay trình bày. Bài viết này với mục đích như một lời trò chuyện cuối năm, chỉ với mục đích thư giãn, để nhìn lại, để khuyến khích mọi người hãy học.

It’s never too late to learn!

Tuệ Nguyện 04/01/2014 








Có câu truyện dân gian của người Á đông kể về đứa con trai tàn nhẫn với cha đẻ của mình.

Truyện kể rằng có đôi vợ chồng trẻ. Có cậu con trai chín tuổi. Cha của người chồng trẻ tức là ông nội của cậu bé chín tuổi cùng sống chung. Người cha đã già và hom hem, không có khả năng lao động và ngồi một chỗ. Người vợ trẻ tuổi phàn nàn về sự có mặt của bố chồng tức ông nội của cậu bé chín tuổi trong nhà. Nhưng người chồng, luôn cố gắng thuyết phục và làm dịu vợ mình. Một đêm, người vợ trẻ chờ cho con trai đi ngủ và bảo chồng nếu như muốn sống với cô ấy thì hãy bỏ cha già đi, người chồng đã không bảo vệ được cha mình. Anh ấy đã đồng tình với ý kiến của vợ và quyết định rằng cuộc sống gia đình phải được tiếp tục, không thể đứt quản. Cho rằng là con trai đã ngủ, hai vợ chồng âm mưu bàn tính để đem bỏ cha vào rừng. Người vợ nói: "sáng sớm mai, anh phải bảo cha rằng anh mang cha đi hành hương. Cho cha vào sọt và mang bỏ vào rừng sâu. Bỏ cha ở đó với thú vật và hãy trở về nhà". Cậu bé còn thức nằm trên giường và nghe lỏm những điều cha mẹ cậu bàn tính.

Sáng hôm sau, cậu bé thức dậy. Như dự kiến, người chồng đặt cha vào sọt và chuẩn bị đi. Cậu bé hỏi. 
- thưa cha, cha mang ông nội đi đâu ?

- Con trai à, cha mang ông đi hành hương.

- Được, nhưng cha nhớ mang sọt về cho con bởi vì con muốn dùng cái sọt để mang cha đi hành hương khi cha đến tuổi như ông nội.

Lúc gay go quyết định cho hai vợ chồng trẻ. Họ đã chuyển tâm và tiếp tục nuôi dưỡng cha tại nhà.

Câu chuyện ngụ ý thật châm biếm và có ý nghĩa về mặt đạo đức làm người.



Thời Ấn Độ cổ cũng có vài câu chuyên tương tự như vậy. Chủ tố của các câu truyện cũng nói lên sự bạt đãi của con trẻ đối với cha mẹ và điều tệ hại này đã được cháu nội nhắc nhở.



Theo câu truyện tương tự thì cậu con trai cho cha lên xe ngựa để bỏ cha ở nghĩa địa. Cháu nội đã đi theo sau cha. Khi đến nghĩa trang, cha cậu bé đào mồ chôn ông nội, cậu bé bảo cha “ xin cha hãy đào thêm một mồ nữa để con chôn cha lúc cha gia như ông nội, con sẽ không mât công đào”. Dĩ nhiên điều này đã ngăn được hành động của người cha trẻ. Ngụ ý bài học cho câu truyện là khi bạn cư xử với cha mẹ mình thế nào thì con cái sẽ cư xử với bạn như vậy.


Một câu truyện khác, ông nội được nhận thúc ăn trong cái đĩa cũ bẩn và đặt dưới đất. Cái dĩa bẩn đến nổi không ai sờ vào nói chi là dùng để đựng thức ăn. Khi con trai nhận thấy không muốn nuôi dưỡng cha thì quyết định quăn cái đĩa bẩn đi. Cậu bé ngăn và bảo:

- Xin cha đừng quăng cái đĩa đi. Con muốn giữ nó lại.

Người cha trẻ hỏi “để làm gì”

Cậu bé trả lời “dĩ nhiên bởi vì con muốn đựng thức ăn khi cha đến tuổi như ông nội’. Điều này dạy cho người cha trẻ cần phải thương quý cha mẹ già.

Ngày xưa, ở một vùng nọ, có vợ chồng kia hiền lành và chăm chỉ, hai người lấy nhau đã lâu mà vẫn chưa có con, họ cầu Trời khấn Phật mãi nhưng vẫn chưa có kết quả.
Hôm ấy, sau khi hai vợ chồng đi lễ chùa về, trời đang nắng bỗng nổi cơn mưa lớn, sấm chớp nổ đùng đùng làm cả hai xanh mặt, vội vã chạy đến một cái miếu nhỏ ở bên đường để núp tạm tránh sét, khi chạy gần đến bậc thềm thì người vợ trợt té, úp bụng xuống đất.
Chồng thấy vậy thì hoảng quá, bồng vợ mang vào bên trong miếu, tưởng rằng vợ bị sây sát gì, nhưng người vợ bảo là chẳng bị trầy trật ở đâu cả, chỉ thấy hơi đau nhói một chút ở bụng mà thôi.
Mưa tạnh trời quang, vợ chồng đưa nhau về nhà và một tháng sau thì người vợ mang thai. Biết rằng Trời Phật đã nhận lời, hai người mừng vô hạn, bèn lấy một phần ba của cải đem đi bố thí cho người nghèo để đền ơn.
Đến ngày khai hoa nở nhụy, người vợ sinh ra được một thằng bé kháu khỉnh trong niềm sung sướng tột cùng. Người chồng bảo:
- Trời Phật đã thương mà nhận lời chúng ta, thì chúng ta phải cố sống làm sao cho xứng với tình thương ấy. Tôi dự tính trích thêm một số bạc nhà mình để sửa lại chùa, mình thấy thế nào?
- Thì mình tính sao em nghe vậy, ân đức này cao bằng trời biển, biết bao nhiêu mà sánh bằng được?
Và thế là ngôi chùa đã được người chồng bỏ tiền ra sửa sang lại khang trang hơn trước.
Đứa bé đầy tháng thì ông mang đến lễ chùa tạ ơn và được đặt tên là Phúc để nhớ đến ân phúc Trời Phật đã ban cho vợ chồng họ.

Thằng Phúc chóng lớn và khôn ngoan thấy rõ, mới lên ba mà đã ăn nói như người lớn vậy, hai vợ chồng cảm thấy vô cùng sung sướng và hạnh phúc khi có một người con như thế.
Những tưởng cảnh đầm ấm này sẽ được dài lâu, ngờ đâu sự việc đến không như họ nghĩ, vì cũng năm đó, người vợ lâm bạo bệnh rồi đột ngột qua đời, dù người chồng đã tìm đủ thầy, chạy đủ thuốc.
Người chồng chỉ biết ôm con mà khóc, không ngờ tình cảnh lại thay đổi một cách éo le và nhanh chóng như vậy, mới hôm nào gia đình còn hạnh phúc tràn trề mà nay đã gãy gánh giữa đường, phải chịu cảnh gà trống nuôi con.
Sự đời như thế vẫn chưa yên vì cái rủi vẫn đeo bám ông, quá nhớ thương vợ và khóc lóc nhiều nên mắt ông sưng lên, vài tháng sau thì mờ dần, không nhìn rõ được.
Năm đó lại xảy ra hạn hán, mất mùa, người ăn xin đông như kiến, ông lại có tính hay giúp người nên cơ ngơi của ông cứ thế mà vơi dần.
Nạn đói đã bắt đầu xảy ra, người ta giành giật nhau từng củ khoai, bụi sắn mà không còn nghĩ gì đến tình làng nghĩa xóm.

Thấy ông bị mờ mắt, con trai thì còn nhỏ dại, bọn gia nhân của ông ngày trước đói quá hóa liều, đêm hôm ấy chúng đột nhập vào nhà bắt trói cha con ông lại rồi tha hồ vơ vét thóc lúa bạc tiền.
Không nhìn thấy gì nên ông chỉ biết tri hô lên cầu cứu, bọn ác nhân liền phang ông một gậy để ông im miệng vì sợ lộ tung tích, thằng bé Phúc còn nhỏ quá nên chỉ biết sợ hãi nhắm tịt mắt lại rúc vào người cha để tránh nạn.
Bọn cướp vét hết tài sản của ông rồi bỏ đi, để lại thằng bé khóc lóc ngơ ngác bên xác cha mình.
May mà ông chỉ bị ngất đi chứ không chết. Khi người làng hay tin đến cứu thì bọn cướp đã cao chạy xa bay, giờ đây cha con ông chỉ còn cái xác nhà không và mảnh vườn trơ trụi. Ông ôm lấy con mà an ủi:
- Cu Phúc đừng khóc nữa. Bố còn sống đây là được rồi. Thế nào bố cũng có cách gầy dựng lại, cho con ăn học thành người…
Tuy mắt bị mờ, không còn nhìn thấy rõ, nhưng ông vẫn không chịu thua số phận, cố gắng hy sinh tất cả vì con.

Thấy con đói, ông lùng sục khắp nơi để lặt từng mớ rau, dò dẫm đào từng củ khoai, củ chuối, lặn lội mò cua bắt ốc để nuôi con qua ngày đoạn tháng.
Trời cũng không phụ lòng nên cha con ông vẫn sống sót được, thoát qua khỏi mùa đói khắc nghiệt năm ấy.
Ông làm lại từ đầu để gầy dựng cơ nghiệp và lo cho con ăn học, dù có phải làm thuê làm mướn, cực khổ trăm bề, ông cũng không từ nan bất cứ việc gì, miễn sao có cái ăn cho thằng Phúc và gởi nó theo học với thầy đồ trong làng, vui cùng chúng bạn cùng tuổi.
Năm tháng qua đi, Phúc mỗi ngày một khôn lớn và người cha mỗi ngày một già đi, ông vẫn âm thầm lo cho con ăn học mà không quản khó nhọc và sức lực hao mòn.
Ngày con trai lên kinh ứng thí là ngày người cha mừng đến rơi nước mắt, vì ước vọng của ông bao lâu nay đã thành hiện thực.
Con đi rồi, ông lần ra thắp hương nơi mộ vợ mà rằng:
- Xin mình chứng giám cho lòng thành của tôi, có thương con thì cầu xin cho nó được đỗ đạt, làm quan vinh hiển để đổi đời cho nó, còn tôi thì phận già ra sao cũng được. Trước sau sống đời chung thủy với mình, vui vầy sớm hôm với con với cháu.

Quả nhiên, người con trai đỗ á khoa kỳ thi năm ấy và được cử làm quan tri huyện trong vùng. Người cha nghe tin mừng không kể xiết, thế là tâm nguyện đã thành, ông nghĩ vợ mình chắc cũng đang mỉm cười nơi suối vàng khi biết con trai đã công thành danh toại.
Quan tri huyện Phúc nhậm chức được hai năm thì lấy vợ, nàng là con gái của một phú ông trong vùng, do đó mà cuộc sống cũng khá giả và hạnh phúc.
Khi con đã thành đạt thì người cha bây giờ mắt đã lòa đi nhiều, bao nhiêu sức lực đã hao phí khi còn trẻ để làm lụng lo lắng cho con, bây giờ tuổi già, sức yếu, chẳng làm gì được, chỉ biết sống bám vào con trai cho trọn vẹn tuổi già.
Quan tri huyện thấy cha đã già yếu, nên lo lắng chăm sóc cho cha rất chu toàn, khiến người cha lấy làm mãn nguyện và sung sướng trong lòng vì mình đã có một người con hiếu thảo.
Ngày tháng trôi đi nhanh như vó câu băng qua cửa sổ, vợ chồng quan tri huyện cũng có một người con trai xinh xắn và dễ thương như vợ chồng ông ngày trước.
Mặc dù mắt ông đã mờ nên ông không nhìn thấy rõ gương mặt cháu nội, nhưng ông cũng mường tượng ra được ít nhiều qua tiếng nói, cử chỉ, ông thấy thằng bé cũng thông minh và sáng dạ như thằng Phúc khi xưa, gia đình ông lại đầm ấm và tràn ngập tiếng cười.

Ngày đứa cháu nội lên bốn thì sức ông đã yếu lắm, tay chân run lẩy bẩy, mỗi lần ăn uống thật là khó khăn, mắt mờ nên ông không nhìn thấy, làm thức ăn đổ trong đổ ngoài, người con dâu phải dọn dẹp mãi nên lâu ngày thành ra khó chịu.
Đã vậy cứ đôi ba hôm ông lại làm rơi vỡ một cái chén, vì tay ông cứ run cầm cập nên không giữ chặt được, ông cũng lấy làm ngại lắm nhưng không biết làm thế nào vì sức mình đã yếu lắm rồi.
Người con dâu thấy vậy tiếc của nên không dám dọn chén kiểu cho ông nữa vì ông cứ làm rơi hoài, cô nàng thay bằng chén sành để lỡ có đánh rơi thì cũng ít hao hơn. Quan huyện lúc đầu không đồng ý, nhưng sau cũng nghe theo lời vợ vì nghĩ rằng mắt cha đã mờ, đâu có phân biệt được chén kiểu hay chén sành.
Nhưng rồi chồng chén sành cũng ngày một vơi đi vì ông cứ đánh rơi mãi khiến vợ chồng quan huyện không biết xử trí thế nào nữa.
Người vợ bèn nghĩ ra một cách, liền bảo chồng:
- Hay là ta kiếm cái gáo dừa làm chén để dọn cho cha ăn, nếu lỡ rơi xuống đất thì cũng đâu có bể, khỏi phải mất công thay chén khác.
- Không được, ai lại làm thế với cha bao giờ! Thiên hạ biết được thì còn coi mình ra gì.
- Nhưng cứ mỗi ngày đánh rơi một cái thì làm sao mình kham nổi, vả lại mắt cha mờ nên có thấy gì đâu, chén gì thì cũng vậy thôi.
Người chồng cứ phân vân mãi, nhưng rồi thấy vợ nói cũng phải, nghĩ rằng chắc cha cũng chẳng nhìn thấy gì nên giấu mọi người trong nhà, lấy cái gáo dừa đẽo gọt miệng cho phẳng để làm chiếc chén theo như lời vợ.

Đứa cháu nội ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc chén cơm của ông làm bằng gáo dừa, có rơi xuống đất cũng không bị bể, nó cảm thấy lạ lắm, nhưng không lộ ra nét mặt nên bố mẹ nó đâu có biết.
Mỗi lần ăn cơm, cầm chiếc chén trên tay, ông nhận ra ngay đó là chiếc gáo dừa, nhưng ông không nói ra vì sợ mất mặt con mình, dù sao con trai mình cũng là tri huyện trong vùng. Tuy vậy, trong lòng ông đau như bị muối xát, chỉ biết âm thầm nén lại mà thôi.
Hôm nọ, quan tri huyện đi công cán ở xa về, nghe lục đục bên hông nhà liền cùng vợ bước đến xem, họ thấy con trai mình đang cầm dao đẽo gọt hai cái gáo dừa khô…
Họ lấy làm lạ hỏi:
- Này, con đang cầm dao nghịch gì thế? Không khéo đứt tay bây giờ!
Đứa bé hồn nhiên bảo:
- Dạ con đang bắt chước cha đẽo gọt hai cái gáo dừa này thành hai cái chén, phòng khi sau này cha mẹ già yếu dọn cơm cho cha mẹ ăn, lỡ có đánh rơi cũng không bị bể cha ạ.
Hai vợ chồng nghe vậy thì điếng cả người, không ngờ con trai mình lại nói thế, nhưng không trách nó được, vì nó nói đúng quá.
Lòng hiếu thảo và tình thân chợt dâng đầy, vợ nhìn chồng, rồi chồng nhìn vợ, cả hai bật khóc, họ hối hận vì những sai lầm của mình đối với người cha già đáng kính, đã hy sinh trót một đời vì mình.

Thế rồi hai vợ chồng chạy vào trong phòng, quỳ sụp dưới chân người cha mù lòa, vừa khóc vừa nói:
- Cha ơi, xin cha hãy tha lỗi cho chúng con, cha đã hy sinh một đời vì con, thế mà chúng con đã ngu ngốc khi đối xử với cha như vậy…
- Dù muôn nghìn chén vàng chén bạc cũng không sánh nổi lòng cha đối với chúng con. Vợ chồng con nguyện khắc dạ ghi tâm và xin cha tha cho tội bất kính này.
Từ đó vợ chồng người con đối xử với cha rất là hiếu thảo cho tới ngày ông qua đời. Chuyện đứa bé gọt cái chén gáo dừa kia đã thức tỉnh lòng ta đối với đấng sinh thành, vì công ơn ấy cao tựa Thái Sơn, biết lấy gì bù lại cho xứng được?!
HẾT

"Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", thoát dịch là ở chùa có một ông sư, bán chùa cũng còn một ông sư. Cái bờ-lóc này cũng thế. Suốt cuộc đời nó luôn là "cô đơn giữa chốn đông người" như cái ngày mà nó mới hình thành.

Thật ra thì không muốn chuyển nhà sang nơi đô thị đâu, nhưng vì vùng đất nghèo xa xôi, hẻo lánh quá, nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ không lặn lội đến được, cũng như là đôi khi lại gặp mưa gió, bão bùng nên không thể quánh dây thép đến kiếm được, sự tiếp cận với nhà của chúng tôi còn khó khăn hơn đi cầu tre lắt lẻo nữa.

Cho nên, nay chúng tôi quyết định thông báo đến toàn thể quý vị (không biết có ai không, nhưng nói cho hoành tờ-ráng vậy) là chúng tôi sẽ chuyển sang nhà mới. Mặt tiền khu đô thị, gần trường học, gần chùa chiền, đặc biệt là có một khuôn mặt rất dễ nhận diện, địa chỉ là: 
http://spunno.wordpress.com/
Định Phúc - 24 hours to live

Trong thời gian qua, chúng tôi có thấy một số người nặc danh (biết tên nhưng không muốn nói) sanh rình rập, canh me để đem bài về nhà của họ mà up, mà post. Việc tuyên truyền, phổ biến của chúng tôi không cần bản quyền, độc quyền gì cả, càng nhiều người biết, nhiều người xem thì càng tốt. Nhưng chỉ xin một điều, khi có lỡ tay đem về nhà mình thì vui lòng cũng lỡ tay để tên tác giả cũng như là nguồn "cung cấp" dùm. Chỉ mong như thế, không phải muốn nổi danh, có tên có tuổi gì với non sông gấm vóc hay là xưng bá thiên hạ gì cả. 

Ngoài ra, khi chuyển sang nhà mới, blog này vẫn được hoạt động bình thường chứ không hề bị bỏ rơi vào lãnh cung. Xin mời lâu lâu ghé qua thăm em nó chút để em nó không bị tủi thân vì không được bằng chị bằng em.

Xin cảm ơn quý vị đã quan tâm và ghé thăm trang nhà. Chúc tất cả quý vị thật nhiều sức khỏe, luôn an lạc và hạnh phúc.

Mong thay!

Định Phúc

Tháng 9 trôi qua một cách nhanh đến chóng mặt, cho nên mới gọi là nhanh chóng. Bốn tháng học trôi qua thì bây giờ đang đối diện với kỳ thi học kỳ đầy mệt mỏi và chưa biết sẽ đi về đâu.
Nhớ lại ngày xưa, khi còn nhỏ, cứ hễ mỗi lần sắp đến thi là lại bệnh sốt, cảm, sổ mũi, mỗi lần như thế đều có Ngoại lo từng chút từng chút...
Khi tôi đau, lòng Ngoại nào yên ổn Từng viên thuốc, chén cháo Ngoại đều lo Đêm khuya dài, Ngoại nào nhắm được mắt Lo cho tôi, không ngại tấm thân già.
(Trích NGOẠI TÔI)

Và bao năm rồi vẫn thế, ta vẫn cứ bệnh; nhưng những lần này chỉ có mình ên ta thôi. Cũng chẳng dám nói ai nghe, sợ lọt tin về Việt Nam thì Ngoại lại lo lắng. Những ngày nằm ở Ký túc xá một mình, ngẫm lại những gì mình trải qua, lăn lóc với cuộc sống, trải nghiệm với cuộc đời cũng giúp cho ta có một sự chai lỳ nhẹ.
Cảm ơn nhé cuộc đời là dâu bể Nuôi lớn ta thành một kẻ vô tri Những gian truân khổ nhọc có sá gì Thân tứ đại vẫn gan lì sỏi đá.
(Trích CẢM ƠN)

Vậy là 9 tháng trôi qua, cũng là 9 năm đã trôi qua của cuộc sống kẻ du phương đây đó. Bao nhiêu nơi đã đi qua, bao nhiêu mùa lá vàng, bao nhiêu người đã gặp gỡ và chia xa...
Và đón chào một tuần mới, một tháng 10 tròn trịa với thật nhiều ý nghĩa. Ngày xưa ta bé, ta không có ngu, ta thích nhất là tháng 10 vì tháng 10 là tháng mà ta được chui ra đời, hiện hữu trên cõi đời này.
Cảm ơn mẹ cho con dòng sữa mát Nuôi đời con trong bát ngát tình thương Cho con lớn thấu hiểu nỗi vô thường Tìm lẽ đạo báo ân dường suối bể.
(Trích CẢM ƠN)

Hơn thế, tháng 10 là tháng đặc biệt nhất với ta, vì nó quánh dấu cuộc đời ta được bước sang một trang mới trong tiểu sử của một kẻ vai trần.
Số 10 thật đẹp và tháng 10 lại càng đẹp hơn với lá thu vàng khắp một khu rừng, với những cánh đồng hoa làm nôn nao biết bao người, với những cánh đồng chín vàng hòa quyện với khói chiều lan tỏa làm buồn muốn thúi dzuột... 
Xách ba-lô lên mà đón chào tháng 10 nào!

Một ngày, vị Sư già của một tu viện dẫn chú tiểu vào trong làng để làm những việc cần. Chú tiểu được sống trong tu viện từ nhỏ và rất ít khi chú được vào trong làng. Trước khi họ đi, vị Sư già dặn dò chú tiểu. "Coi chừng những con cọp. Có rất nhiều con cọp ăn thịt người nam ở trong làng. Ta sẽ chỉ cho con khi những con cọp đó xuất hiện."
Và họ đi qua một con đường làng đông đảo những người, chú tiểu thấy nhiều người phụ nữ đẹp đẽ khi đi ngang qua. Mỗi lần họ đi ngang qua người phụ nữ đẹp đẽ, vị Sư già nói với chú tiểu, "cẩn thận, cô ta là con cọp ăn thịt người nam."
Sau khi họ trở về tu viện tối hôm đó, hai người cùng ăn bữa cơm tối. Vị Sư già hỏi chú tiểu, "Cái gi` làm con thích nhất ở trong làng?"
Chú tiểu trả lời, "Những con cọp ăn thịt người đàn ông." 
 
One day, an old monk (bhikshus) in a monastery took an young monk (or sramaneras) to town to do some business. The young monk grew up in the monastery all his life and seldom ventured out on his own. Before they went, the old monk told him, "Beware of tigers. There are a lot of man-eating tigers in town. I will show you when they are present."
As they wonder through the busy street of the metropolitan, the young monk noticed that there are a lot of attractive women passing by. Every time, they came pass an attractive woman, the old monk would tell him, "Be ware. She is a man-eating tiger."
After they return to the monastery that night, the two had supper together. The old monk asked the young monk, "What do you like best in town?"
The young monk replied, "man-eating tigers."

Sưu tầm: http://minhhanhdp.brinkster.net/default1.htm

Mùa thu lại đến. Trăng lại lên cao. Những hộp bánh trao nhau. Những chiếc đèn lồng tỏa sáng khắp phố. Mọi người vui đón Trung thu sao chẳng ai đoái hoài gì đến người xa quê hết. Thèm miếng bánh Trung thu mà cũng chẳng có để mà xem thì nói gì mà phá làng với phá cỗ.
Nhớ năm xưa, tại ngôi trường Phật học chốn làng quê, mùa Trung thu thật vui. Nào là làm lồng đèn, nào là tổ chức đốt đèn, đãi nước thay bánh, viết thơ, nói chuyện... đủ thứ trên "chùa". Còn bây giờ, nhìn lại, chỉ còn mình ta với ta. Ra trường hết, mỗi người một ngả, mỗi người một chí hướng tha hồ tung bay, chẳng hề vướng bận chi nhau.
Bánh thì có thể xem được, đèn lồng thì bán thiếu gì ngoài kia, trăng thì mùa nào cũng có, chỉ có duy nhất là bạn bè ngày xưa giờ mất hết rồi. Người ra đi, kẻ ở lại, người trả áo, kẻ cất bước lên đường... 9 năm, mươi năm... và bao năm nữa, bao mùa trung thu lặng lẽ đốt đèn và đi ngủ để nhớ về một thuở xa xưa ở nơi xa xăm tại một chốn xa xôi.
Mưa thì cứ mưa, mưa nó vốn dĩ là hiện thân của những nỗi buồn và gợi nhớ những kỷ niệm. Hết mưa thì thôi, hết trăng thì thôi nhưng làm sao để hết buồn hết nhớ???
Ta cứ mãi lang thang trong cái chốn non nước này đến bao giờ nhỉ?
Thôi thì "đói ăn khát uống cứ tùy duyên", cứ để nó trôi theo dòng chảy tự nhiên. Hãy để mưa cuốn trôi đi mọi thứ, sau cơn mưa, hẳn nhiên trời sẽ mát và mình lại lên đường tiếp tục cuộc tử sinh.

Bangkok, Trăng thu tháng 8/2013.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ


  • BÀI MỚI NHẤT
  • NHẬN XÉT MỚI NHẤT

ĐƯỢC QUAN TÂM

  • Ngày ấy tôi ra đi (Định Phúc)
  • Happy Birthday 25th
  • TRƯỞNG LÃO BAKKULA - Đệ nhất hạnh vô bệnh (Định Phúc)
  • Lễ An vị kim thân Đức Phật và Dâng Y Kathina tại Chùa Thanh Phước (Bình Long - Bình Phước)
  • ĐỜI KHÔNG CHA (Quach Khang Huy)

Thống Kê

LIÊN KẾT WEBSITE

  • người áo lam
    KHAI BÚT ĐẦU XUÂN CANH TÝ - Trong 12 con giáp thì có lẽ con Chuột là loài vật thân thuộc nhất mà mỗi chúng ta gặp nhiều nhất. Chuột cũng được nhắc rất nhiều đến trong ca dao tục ngữ...
    6 năm trước
  • Chùa Ngưỡng Quan
    -
  • Chánh Đạt Online
    -

Con Người Tỉnh Thức


http://www.nguongquan.com/


2011 Định Phúc. All rights reserved.
Mọi thắc mắc thư từ bài vở xin liên lạc samadhipunno@yahoo.com
Designed by Thích Trí Giải | Based on SimplexDesign
Thích Trí Giải